CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm 1.1 Cửa sông Cửa sông là vùng chuyển tiếp giữa sông và biển, nơi có hệ sinh thái độc đáo, phức tạp nhưng rất giàu tài nguyên. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cửa sông dựa trên quan điểm về địa chất, địa mạo, khí hậu, động lực. Năm 1967, Pritchard đưa ra định nghĩa về cửa sông như sau: “ Cửa sông ven biển là một thủy vực nước lợ bán kín ven bờ nối liền với biển khơi, trong đó giới hạn của nó là nơi mà nước biển còn vươn tới pha trộn với dòng nước ngọt bắt nguồn từ nội địa”. Tuy nhiên, hạn chế của định nghĩa này là đã không đề cập đến tác động của thủy triều.
Năm 1980, Fairbridge đã đưa ra định nghĩa về cửa sông được sự tán thành của nhiều nhà khoa học: “Một cửa sông là một nhánh của biển đi vào một dòng sông đến nơi mà mực nước cao nhất của thủy triều còn vươn tới, thường được chia thành 3 phần khác nhau: a) phần biển hay phần cửa sông thấp, nối liền với biển khơi; b) phần cửa sông trung, nơi diễn ra sự pha trộn chính của nước biển và nước ngọt; và c) phần cửa sông cao, chi phối bởi nước ngọt nhưng còn tác động của thủy triều. Giới hạn giữa 3 phần này không cố định và biến động theo lượng nước ngọt đổ ra từ sông”. Day đã đưa ra định nghĩa về cửa sông như sau: “Cửa sông là thủy vực ven bờ nửa khép kín về mặt không gian, liên hệ trực tiếp với biển một cách thường xuyên hay theo chu kỳ, trong đó độ muối biến đổi do sự hòa trộn có mức độ của nước biển với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa”. Cửa sông cung cấp cho chúng ta các nguồn lợi, các lợi ích và dịch vụ.
Một phần trong số các nguồn lợi này có thể tính toán được giá trị kinh tế, nhưng không thể tính được giá trị kinh tế của tổng hợp các nguồn lợi này được. Cửa sông cung cấp địa điểm cho các hoạt động giải trí, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, hưởng thụ thẩm mỹ, và đặc biệt đóng góp quan trọng trong nền kinh tế của cư dân 3 vùng cửa sông ven biển. Hàng ngàn loài chim, động vật có vú, cá và động vật hoang dã phụ thuộc vào môi trường cửa sông để sống, tìm kiếm thức ăn và sinh sản. Nhiều sinh vật biển đã tìm đến vùng cửa sông để sinh sản, nhiều loài cá nước ngọt từ các con sông cũng coi cửa sông là nơi lý tưởng để duy trì nòi giống của chúng.
Do đó, các cửa sông được coi là “vườn ươm của biển” Như vậy, cửa sông là nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể thay thế và phải được quản lý một cách cẩn thận vì lợi ích của con người, vì sự phát triển bền vững của cả xã hội nói chung.2 Nguồn lợi thủy sản “Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thủy sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản” (Luật thủy sản và các văn bản hướng dẫn thi hành, 2003). Theo Vũ Trung Tạng năm 2006 thì “NLTS là phức hợp các loài thủy sinh vật có giá trị của một vùng địa lý xác định, được con người khai thác và sử dụng trực tiếp cho những mục đích khác nhau, trước hết là làm thực phẩm, sau sử dụng như những nguyên liệu làm cho các ngành công nghiệp, sản xuất dược liệu, làm cảnh. NLTS vùng cửa sông có những đặc trưng riêng biệt, khác với NLTS ở các môi trường nước khác. Cũng theo Vũ Trung Tạng định nghĩa thì NLTS cửa sông có “thành phần loài cá và những đối tượng khai thác, nuôi trồng rất đa dạng, hầu hết là những loài có nguồn gốc biển, thích nghi với điều kiện môi trường trước hết là độ muối, biến động nhanh theo thời gian và không gian”.3 Phát triển bền vững Thuật ngữ “phát triển bền vững” được giới thiệu lần đầu tiên bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Quốc tế (IUCN).
Họ cho rằng “sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” (Trần Thị Nhung, Võ Dao Chi, 2013). 4 Trong xu thế phát triển không ngừng của các ngành kinh tế, công nghiệp và nhu cầu xã hội, con người ngày càng sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn trước. Vấn đề đặt ra cho toàn cầu là cần gia tăng các biện pháp phát triển bền vững trên nhiều phương diện và lĩnh vực để “nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ” (theo báo cáo Bruntland (1987). Ngành thủy sản cũng không nằm ngoài xu thế phát triển chung đó.
Để phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản thì nhiệm vụ đầu tiên là khai thác bền vững. Khai thác bền vững được hiểu là cách khai thác sao cho các sản phẩm thu được vừa đáp ứng nhu cầu hiện tại vừa đảm bảo duy trì nguồn lợi ổn định cho thế hệ mai sau. Như vậy, khai thác bền vững nguồn lợi hải sản là khai thác một phần nguồn lợi có sẵn, sao cho phần còn lại trong chu trình một năm có thể sinh sản và khôi phục lại đàn như trạng thái ban đầu. Nhờ thế, có thể duy trì được nguồn lợi lâu dài.
Tổng quan nghiên cứu về cửa sông và nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông 1.1 Tổng quan nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về vùng cửa sông ven biển trên thế giới và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông được tiến hành theo các hướng nghiên cứu khác nhau. Một số tác giả tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến NLTS vùng cửa sông, một số tác giả khác lại tập trung nghiên cứu sự ảnh hưởng của xâm lấn sinh vật ngoại lai.M Blader trong cuốn sách “Fish in hot water” thì các nghiên cứu về cửa sông được tập trung thực hiện ở các quốc gia công nghiệp phát triển, hầu hết trong số đó là các nghiên cứu ở các vùng lạnh hay ôn đới. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã có một sự bùng nổ về các nghiên cứu về thủy sản các vùng cửa sông nhiệt đới. Sở dĩ có sự bùng nổ về nghiên cứu như vậy là do yêu cầu cấp thiết của vấn đề an ninh lương thực và bảo tồn, duy trì ĐDSH.
Cả hai vấn đề này đều đỏi hỏi kiến thức về sinh thái của các loài cá ở cửa sông nhiệt đới, đặc biệt là mối quan hệ của chúng với môi trường và mức độ phụ thuộc của chúng vào các cửa sông hoặc môi trường sống liền kề để tồn tại. 5 Nhóm tác giả Julie M. Cech, và Lara J. Hansen thuộc trường đại học California đã có công trình nghiên cứu về tác động của BĐKH toàn cầu đến các loài cá và thủy sản ở các vùng cửa sông và trên biển.
Đây được xem là công trình đánh giá đầy đủ và chi tiết những tác động mà BĐKH gây ra cho các loài thủy sản và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Từ việc phân tích xu hướng tác động của BĐKH toàn cầu lên việc tiêu thụ oxy ở cá hay những thay đổi tập tính trong việc tìm kiếm thức ăn, các tác giả đã đưa ra những dự báo về điều kiện tác động và sự phân bố của các loài cá khi có sự thay đổi vệ nhiệt độ môi trường nước. Những thay đổi về sự phân bố của các luồng cá ảnh hưởng quan trọng đến dân cư khu vực ven biển và cửa sông. Tác giả AN Cohen thuộc viện nghiên cứu cửa sông San Francisco Hoa Kỳ và cộng sự JT Carlton đã tiến hành nghiên cứu về sự xâm lấn của các sinh vật ngoại lai và ảnh hưởng của nó tới môi trường, kinh tế và nguồn lợi thủy sản khu vực San Francisco.
Đề tài nghiên cứu “Hệ sinh thái dòng sông và cửa sông: những ảnh hưởng đối với nghề cá ven biển từ một đánh giá và nghiên cứu trường hợp của sông Logan, phía đông nam Queensland” của tác giả Neil R. Loneragan lại tập trung nghiên cứu những biến động về dòng chảy, độ mặn, độ đục … ảnh hưởng đến môi trường sống cho cá và các loài giáp xác. Tác giả xem xét những bằng chứng về mối liên hệ giữa dòng chảy và năng suất các cửa sông, nghề cá ven biển.2 Tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam Bờ biển nước ta trải dài trên 3.260km cùng với các hệ thống sông đổ ra biển đã tạo ra các vùng cửa sông ven biển với các hệ sinh thái đặc trưng. Chúng là kết quả của quá trình tương tác giữa sông – biển với những cấu trúc và quy luật biến động riêng đã tạo ra những dạng tài nguyên độc đáo, có giá trị và ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia có biển.
Tuy nhiên, do áp lực của sự gia tăng dân số, việc khai thác tài nguyên vùng cửa sông càng được đẩy mạnh trong khi hiểu biết về vùng chuyển tiếp này còn hạn chế nên đã và đang dẫn đến những hậu quả nặng nề về mặt sinh thái và môi trường. 6 Ở Việt Nam, tác giả nghiên cứu hàng đầu về cửa sông và các hệ sinh thái cửa sông ven biển không thể không kể tác giả Vũ Trung Tạng. Với sự nhận thức về giá trị và vai trò của các vùng cửa sông ven biển trong sự phát triển kinh tế-xã hội, các nghiên cứu đầu tiên về cửa sông theo quan điểm sinh thái học được ông khởi xướng và triển khai trên các cửa sông tiêu biểu như: cửa hệ sông Hồng (1974-1976; 1981- 1985), hệ phá Tam Giang-Cầu Hai (1976-1977), cửa sông Cửu Long (1978-1980), đầm Trà Ổ (1998-1999), cửa sông Hải Phòng-Quảng Ninh (1997-1998). Các kết quả nghiên cứu đã tạo cơ sở cho sự ra đời của công trình mang tên “Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam”.
Công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới, đồng thời đặt cơ sở ban đầu về phương pháp luận cho các nghiên cứu sinh thái học các hệ cửa sông ven biển ở nước ta. Ngày nay, nghiên cứu sinh thái học các hệ cửa sông đã trở thành vấn đề cấp bách và mang tính thời sự, được định hình trong nhiều đề tài, chương trình, đề án nghiên cứu cấp Nhà nước, cuốn hút sự quan tâm chú ý của nhiều cán bộ khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau.