Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Rừng nhiệt đới Việt Nam chiếm khoảng hai phần ba diện tích tự nhiên của cả nước, đóng vai trò điều hòa nguồn nước, khí hậu, lưu giữ nguồn gen sinh vật quý hiếm và bảo đảm an ninh môi trường. Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 1991 đến tháng 10 năm 2008 ghi nhận sự suy giảm nghiêm trọng diện tích rừng với tổng số 399.118 ha bị mất (bình quân 57.019 ha/năm). Để ngăn chặn đà suy thoái này, hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên đã được củng cố và mở rộng.
Lớp Côn trùng (Insecta) là nhóm sinh vật phong phú nhất trên Trái Đất với hơn 1 triệu loài đã được mô tả và ước tính số loài thực tế có thể lên đến 30 triệu loài. Trong đó, bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ có số lượng loài lớn nhất, giữ vai trò sinh thái đa dạng: tham gia phân giải chất hữu cơ, làm tơi xốp đất, tạo mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn và cung cấp nhiều loài thiên địch hạn chế sâu hại; đồng thời cũng gồm nhiều loài ăn lá, đục thân gây hại cho tài nguyên thực vật rừng.
Vườn quốc gia Vũ Quang (tỉnh Hà Tĩnh) được thành lập ban đầu là Khu bảo tồn thiên nhiên năm 1986 (diện tích 16.000 ha) và được nâng hạng thành Vườn quốc gia theo Quyết định số 102/2002/QĐ-TTg ngày 30/7/2002 của Thủ tướng Chính phủ với tổng diện tích 55.058 ha. Trước năm 1992, khu vực này hầu như chưa có các đợt điều tra bài bản về khu hệ động thực vật; các nghiên cứu sau đó chủ yếu tập trung vào thực vật và các loài thú lớn (như phát hiện loài Sao la năm 1992 và Mang lớn năm 1993). Đến năm 2009, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR) phối hợp cùng Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Leiden (NATURALIS - Hà Lan) tiến hành khảo sát sơ bộ về côn trùng, nhưng vẫn chưa có công trình chuyên biệt nào đánh giá chi tiết về thành phần loài, đặc điểm sinh thái và biện pháp quản lý bảo tồn đối với bộ Cánh cứng tại đây.
Khóa luận được triển khai nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xác định thành phần loài và đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài chủ yếu thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý, giám sát và bảo tồn các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại Vườn quốc gia Vũ Quang.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 5 nội dung:
- Xác định thành phần loài thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu.
- Xác định đặc điểm phân bố của các loài Cánh cứng theo các tuyến, điểm và trạng thái rừng.
- Đánh giá tính đa dạng loài của bộ Cánh cứng.
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái và tập tính của một số loài chủ yếu.
- Đề xuất một số biện pháp giám sát và quản lý bảo tồn côn trùng Cánh cứng tại khu vực.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera).
- Không gian nghiên cứu: Địa bàn xã Hương Điền và xã Vũ Quang thuộc Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 14/02/2011 đến ngày 13/05/2011 (thời gian thu mẫu thực địa tập trung từ ngày 18/02/2011 đến ngày 05/04/2011).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và tài liệu kế thừa
Nghiên cứu dựa trên các nguyên lý phân loại học hình thái côn trùng và sinh thái học lâm nghiệp. Văn bản kế thừa các công trình nghiên cứu côn trùng học kinh điển của Keppen (1882–1883), Aurivillus (1912–1923), Lesne (1938), Lepesme (1944), Trương Chấp Trung (1959), Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm (1987), Donal Borror và Richard White; các tài liệu trong nước của Đặng Vũ Cẩn (1973), Viện Bảo vệ thực vật (1976), Bùi Trung Hiếu (2008); cùng hệ thống số liệu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội do Phòng Khoa học kỹ thuật và Hợp tác quốc tế Vườn quốc gia Vũ Quang cung cấp.
Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp
Công tác điều tra thực địa được thực hiện qua các bước kỹ thuật lâm sinh:
- Khảo sát sơ thám và bố trí tuyến: Tận dụng hệ thống đường mòn tự nhiên đi qua các dạng địa hình và sinh cảnh khác nhau để lập 3 tuyến điều tra chính.
- Hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 21 ô tiêu chuẩn điển hình (diện tích mỗi OTC là 500 m²) bao quát các trạng thái rừng và sinh cảnh: trảng cỏ (Ia), trảng cỏ cây bụi (Ib), cây bụi có cây gỗ tái sinh và tre nứa (Ic), rừng cây tiên phong phục hồi sau khai thác kiệt (IIb), rừng thứ sinh qua khai thác kiệt đang phục hồi (IIIA1, IIIA2), rừng trồng Keo và đất nương rẫy chân núi.
- Phương pháp thu thập mẫu vật:
- Điều tra cây đứng: Chọn cây theo phương pháp 5 mốc (1 mốc tâm và 4 mốc theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc cách tâm 10 m). Mỗi mốc chọn 2 cây gỗ cao trội gần nhất, tổng cộng 10 cây/OTC; trên mỗi cây điều tra 5 cành tiêu chuẩn.
- Điều tra cây đổ: Trên mỗi cây đổ lập 9 ô dạng bản (ODB) diện tích 1.000 cm² (kích thước 50 × 20 cm, 40 × 25 cm hoặc 100 × 10 cm) tại gốc, thân và ngọn (mỗi vị trí 3 ODB; nếu chu vi ngọn < 40 cm thì gộp lại thành 3 ODB đại diện). Bóc vỏ đếm số lỗ mọt, đường mọt đơn thê, đa thê và đường đục của xén tóc.
- Điều tra gốc chặt: Đo đường kính mặt cắt (D), chiều cao gốc chặt (H ≤ 1/3 D), thống kê tỷ lệ gốc sống, chết và mức độ sâu hại.
- Điều tra thảm mục và dưới đất: Bố trí 5 ô dạng bản diện tích 1 m²/OTC (1 ô trung tâm, 4 ô ở 4 hướng). Gạt thảm khô, nhặt sâu bề mặt, sau đó cuốc đất theo từng lớp sâu 10 cm, bóp nhỏ và rây đất để thu bắt ấu trùng, nhộng và thành trùng của các họ Bọ hung, Bổ củi, Hành trùng.
- Thu bắt bằng vợt: Sử dụng vợt vải màn đường kính miệng sắt 30 cm có cán gỗ để bắt các loài côn trùng bay hoặc di chuyển nhanh trên tán bụi; bảo quản mẫu trong cồn 90°.
- Điều tra bằng bẫy hố: Sử dụng hộp, chai lọ thành nhẵn chôn ngang mặt đất (miệng bẫy nhô cao 1 cm tránh nước tràn), bên trong treo mồi cám rang bọc vải thưa; bố trí 3 bẫy/OTC cách nhau 50 cm, có nắp che mưa và lưới thô bảo vệ để thu bắt côn trùng hoạt động ban đêm có tính xu hóa.
Phương pháp nghiên cứu nội nghiệp
- Xử lý và giám định tiêu bản: Mẫu ngâm cồn 90° được thấm khô, cắm kim côn trùng vuông góc qua vai cánh trước (đoạn kim phía trên chiếm 1/3 đến 2/3 tổng chiều dài kim), cắm cố định trên tấm xốp mềm. Các mẫu kích thước nhỏ được gắn bằng keo chuyên dụng lên mẩu giấy hình tam giác nhọn rồi mới cắm kim. Tiến hành giám định hình thái học (kích thước thân, mắt, kiểu râu, cơ quan miệng, chân, cánh, đốt bụng) dựa trên khóa phân loại và tài liệu chuyên khảo.
- Xử lý số liệu thống kê:
- Tần số xuất hiện (tỷ lệ bắt gặp):
$$P_i% = \frac{n}{N} \times 100$$
(với $n$ là số ô tiêu chuẩn ghi nhận loài $i$, $N = 21$ là tổng số ô tiêu chuẩn).
- Phân cấp độ gặp: Loài ngẫu nhiên gặp ($P_i \le 25%$, ký hiệu
+), Loài ít gặp ($25% < P_i \le 50%$, ký hiệu ++), Loài thường gặp ($P_i \ge 50%$, ký hiệu +++).
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần I: Lược sử nghiên cứu
Phần này tổng quan các mốc lịch sử nghiên cứu côn trùng học:
- Trên thế giới: Hội côn trùng học Anh thành lập năm 1745, Hội côn trùng học Nga năm 1859. Các công trình phân loại quy mô lớn gồm Keppen (1882–1883) về côn trùng lâm nghiệp; Aurivillus (1912–1923) thống kê 13.465 loài xén tóc, sau đó được Trần Thế Lương, Tạ Ôn Trinh và Quách Quốc Phiên ghi nhận vượt 20.000 loài vào năm 1959. Các nghiên cứu của Trương Chấp Trung (1959), Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm (1987) tại Trung Quốc đã xây dựng bảng tra cho các phân họ Chrysomelidae; Donal Borror và Richard White nghiên cứu phân loại tại Bắc Mỹ; Lesne (1938) và Lepesme (1944) xác định 79 giống, 455 loài thuộc họ Bostrychidae toàn cầu.
- Trong nước: Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nhóm sâu hại nông lâm nghiệp như Đặng Vũ Cẩn (1973) nghiên cứu bọ hung hại bạch đàn (Holotrichia sauteri, Maladera sp.); Viện Bảo vệ thực vật (1976) định loại 75 giống, 98 loài xén tóc ở miền Bắc; Bùi Trung Hiếu (2008) nghiên cứu loài vòi voi lớn (Cyrtotrachelus buqueti) hại tre luồng tại Hòa Bình. Riêng tại VQG Vũ Quang, dữ liệu côn trùng học còn thiếu hụt nghiêm trọng.
Phần II: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày cụ thể thiết kế nghiên cứu thực địa: mô tả tọa độ 3 tuyến khảo sát, lập bảng đặc điểm 21 ô tiêu chuẩn (OTC 1 đến OTC 21) kèm trạng thái rừng và thảm thực bì ưu thế; chuẩn hóa quy trình điều tra cây đứng, cây đổ, gốc chặt, thảm mục đất, vợt bắt và bẫy hố mồi cám rang; xác lập công thức tính toán chỉ số tần số bắt gặp $P_i%$ và kỹ thuật chế tác tiêu bản cắm kim.
Phần III: Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của khu vực
- Điều kiện tự nhiên: Vườn quốc gia Vũ Quang có diện tích 55.058 ha (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 38.378 ha, phục hồi sinh thái: 16.636 ha, hành chính dịch vụ: 44 ha), nằm trên địa bàn 3 huyện Vũ Quang, Hương Khê, Hương Sơn. Địa hình chia cắt mạnh với 3 kiểu chính: núi cao từ 301–2.286 m (chiếm 56,6% diện tích), đồi thấp dưới 300 m (chiếm 43%) và thung lũng dốc tụ (chiếm 0,4%). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng mưa bình quân 2.304 mm/năm; nhiệt độ trung bình năm 23°C (biên độ dao động từ 2,6°C đến 41,2°C; tháng 1 xuống 11°C, tháng 7 lên 41,2°C). Mạng lưới thủy văn gồm 3 hệ thống: Khe Tre, sông Ngàn Trươi (dài 30 km) và sông Rào Nổ. Địa chất gồm 2 nhóm đá mẹ: Macmaaxit kết tinh chua và phiến thạch sét; thổ nhưỡng chủ yếu là Feralit đỏ vàng và Feralit đỏ nâu. Thảm thực vật phân hóa theo 5 đai cao từ rừng thường xanh đất thấp đến rừng lùn đỉnh núi (>1.900 m). Khu hệ động vật ghi nhận 72 loài thú, 301 loài chim, 40 loài bò sát, 25 loài lưỡng cư, 88 loài cá và 316 loài bướm, sở hữu các loài thú quý hiếm như Sao la, Mang lớn, Bò tót, Voọc vá chân nâu.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Vùng đệm gồm 8 xã thuộc 3 huyện với 7.588 hộ (30.309 nhân khẩu), chủ yếu là người Kinh và 129 hộ người Lào di cư. Kinh tế chủ đạo là sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, 26,89% số hộ thiếu lương thực kỳ giáp hạt; tỷ lệ nghèo cao nhất tại xã Hương Thọ (42,90%). Tình trạng thả rông gia súc (trâu, bò), khai thác trộm gỗ, củi, măng và đánh bắt thủy sản bằng kích điện, chất độc gây sức ép trực tiếp lên thảm thực bì và sinh cảnh của côn trùng.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu
Nội dung này trình bày toàn bộ số liệu điều tra thực nghiệm:
- Lập danh lục 51 loài Cánh cứng thuộc 13 họ (Bảng 4-01).
- Thống kê tỷ lệ các họ (Bảng 4-02), xác định họ Chrysomelidae chiếm ưu thế tuyệt đối (17 loài, 33,33%), họ Coccinellidae (7 loài, 13,73%), họ Scarabaeidae và Carabidae (mỗi họ 6 loài, 11,77%).
- Thống kê nhóm loài ngẫu nhiên rất ít gặp có $P% < 10%$ (26 loài thuộc 10 họ - Bảng 4-03) và nhóm loài ít gặp có $25% < P% < 50%$ (5 loài - Bảng 4-04).
- Phân tích sự phân bố theo 21 điểm điều tra (Bảng 4-05): các ô tiêu chuẩn 6, 8, 9, 13, 14 có số loài cao nhất (xấp xỉ 20%), trong khi các ô 1, 3, 17, 18, 20 đạt dưới 8%.
- Phân tích sự phân bố theo 8 trạng thái rừng (Bảng 4-06): trạng thái IIb dẫn đầu với 35 loài (68,63%), rừng trồng Keo đạt 15 loài (29,41%), nương rẫy có 7 loài (13,73%) và trạng thái Ia có 5 loài (9,80%).
- Đánh giá hình thái, tập tính (hoạt động ngày/đêm, các phản xạ xu quang, xu hóa) và tổng hợp vai trò sinh thái của 51 loài (Bảng 4-07).
- Mô tả sinh học chuyên sâu 4 loài phổ biến đại diện cho các nhóm chức năng sinh thái.
Kết quả và đóng góp
Kết quả định lượng chính
Nghiên cứu đã thu thập và giám định được 51 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera), phân loại vào 13 họ khác nhau tại VQG Vũ Quang.
| STT |
Họ côn trùng (Family) |
Số loài ghi nhận |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Chrysomelidae (Bọ cánh cứng ăn lá) |
17 |
33,33% |
| 2 |
Coccinellidae (Bọ rùa) |
7 |
13,73% |
| 3 |
Scarabaeidae (Bọ hung) |
6 |
11,77% |
| 4 |
Carabidae (Hành trùng) |
6 |
11,77% |
| 5 |
Cerambycidae (Xén tóc) |
3 |
5,88% |
| 6 |
Rutelidae / Rutelinae |
2 |
3,92% |
| 7 |
Cicindelidae (Hổ trùng) |
2 |
3,92% |
| 8 |
Curculionidae (Vòi voi) |
2 |
3,92% |
| 9 |
Geotrupidae |
2 |
3,92% |
| 10 |
Lampyridae (Đom đóm) |
1 |
1,96% |
| 11 |
Elateridae (Bổ củi) |
1 |
1,96% |
| 12 |
Cetoniidae |
1 |
1,96% |
| 13 |
Melolonthidae |
1 |
1,96% |
| Tổng cộng |
13 họ |
51 |
100,00% |
Về tần suất bắt gặp:
- Không có loài nào thuộc nhóm thường gặp ($P% \ge 50%$).
- Nhóm loài ít gặp ($25% < P% < 50%$) ghi nhận 5 loài cùng đạt tỷ lệ $P% = 28,57%$, bao gồm: Bọ rùa đỏ (Rodolia pumila), Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri), Bọ hung (Anomala veriegata), Hành trùng (Chlaenius naeuger) và Cầu cấu xanh (Hypomeces squamosus).
- Nhóm loài gặp ngẫu nhiên ($P% \le 25%$) chiếm đa số với 46 loài, trong đó có 26 loài rất ít gặp ($P% < 10%$).
Sự phân bố số loài Cánh cứng biến động theo trạng thái rừng và sinh cảnh:
| STT |
Trạng thái rừng / Sinh cảnh |
Số loài ghi nhận |
Tỷ lệ (%) so với tổng số loài |
| 1 |
Rừng cây tiên phong phục hồi sau khai thác kiệt (IIb) |
35 |
68,63% |
| 2 |
Rừng trồng Keo |
15 |
29,41% |
| 3 |
Trảng cỏ cây bụi (Ib) |
14 |
27,45% |
| 4 |
Cây bụi có cây gỗ tái sinh rải rác và tre nứa (Ic) |
12 |
23,53% |
| 5 |
Rừng thứ sinh qua khai thác chọn kiệt đang dần phục hồi (IIIA1) |
11 |
21,57% |
| 6 |
Rừng thứ sinh qua khai thác chọn kiệt có cây gỗ to khỏe (IIIA2) |
10 |
19,61% |
| 7 |
Đất nương rẫy dưới chân núi |
7 |
13,73% |
| 8 |
Trảng cỏ (Ia) |
5 |
9,80% |
Về vai trò trong hệ sinh thái:
- Nhóm ăn lá, vỏ cây, đục thân cành, hại rễ: 35 loài (chiếm 68,62%).
- Nhóm ăn thịt (thiên địch tiêu diệt sâu hại): 14 loài (chiếm 27,45%), điển hình là các loài thuộc họ Coccinellidae, Carabidae, Cicindelidae.
- Nhóm phân hủy xác động thực vật, cải tạo đất: 12 loài (chiếm 23,53%), đại diện là các loài thuộc họ Scarabaeidae, Geotrupidae.
- Nhóm làm thức ăn cho các động vật khác: 8 loài (chiếm 15,69%).
Bốn loài được tác giả mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái và sinh thái:
- Bọ rùa đỏ (Rodolia pumila Weise - họ Coccinellidae): Chiều dài thân 3–5 mm, rộng 3–4 mm; mặt lưng cong vồng màu đỏ cam, mặt bụng phẳng màu đen; râu đầu hình chùy ngắn; sâu non và trưởng thành ăn rệp sáp, rệp ống; có cơ chế tự vệ tiết dịch vàng hôi qua khớp chân.
- Hành trùng (Chlaenius inops Chaudoir - họ Carabidae): Thân dài 8–12 mm, màu đen, râu sợi chỉ 11 đốt; chân mảnh dài thích nghi chạy săn mồi; cánh cứng có gờ song song; săn mồi vào chập tối, ăn sâu non cánh vảy và ấu trùng bọ hung; tiết dịch hôi cay khi bị kích động.
- Cầu cấu xanh (Hypomeces squamosus Fabricius - họ Curculionidae): Dài 14–16 mm, cơ thể phủ vảy xanh kim loại óng ánh, miệng biến đổi thành vòi nhai phát triển; là loài côn trùng ăn thực vật, gây hại lá cây rừng.
- Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauser - họ Scarabaeidae): Nhóm côn trùng hoạt động ban đêm, ấu trùng sống dưới đất cắn phá rễ cây, thành trùng ăn lá; có tính xu quang mạnh.
Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn
Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:
- Ngăn chặn và quản lý chặt chẽ hoạt động chăn thả rông gia súc (trâu, bò) trong rừng tự nhiên nhằm bảo vệ tầng cỏ mục, thảm thực bì và lớp đất mặt - nơi cư trú của nhộng và ấu trùng côn trùng.
- Kiểm soát nạn đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản phụ trái phép (chặt gỗ, lấy củi, đào măng); hạn chế sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại các dải canh tác nương rẫy giáp ranh vùng đệm.
- Thiết lập chế độ giám sát định kỳ đối với các loài côn trùng cánh cứng có ích (đặc biệt là họ Bọ rùa và Hành trùng) để tận dụng vai trò thiên địch tự nhiên trong kiểm soát sinh học sâu hại rừng.
- Bảo tồn nguyên vẹn các sinh cảnh rừng thứ sinh phục hồi (trạng thái IIb), duy trì cấu trúc đa tầng tán và độ che phủ thảm mục nhằm bảo đảm nguồn thức ăn và nơi trú ẩn cho khu hệ côn trùng.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã bổ sung danh lục phân loại học đầu tiên về bộ Cánh cứng với 51 loài thuộc 13 họ tại VQG Vũ Quang. Công trình cung cấp số liệu thực nghiệm gốc về mối liên hệ giữa trạng thái rừng nhiệt đới với mật độ phân bố côn trùng, đồng thời thiết lập cơ sở dữ liệu thực địa phục vụ quản lý tài nguyên sinh vật tại khu vực Bắc Trường Sơn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Thời gian và thời điểm khảo sát: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian ngắn (thực địa từ ngày 18/02/2011 đến ngày 05/04/2011), rơi vào giai đoạn cuối đông sang xuân. Thời tiết khu vực có nhiều ngày lạnh, mưa phùn kéo dài và độ ẩm cao, khiến nhiều loài côn trùng cánh cứng vẫn đang trong trạng thái qua đông (dưới thảm mục hoặc trong thân cây), dẫn đến số lượng loài thu bắt chưa phản ánh toàn diện đỉnh cao sinh cảnh.
- Phạm vi không gian: Khảo sát mới tập trung chủ yếu ở đai thấp (100–300 m) thuộc địa bàn hai xã Hương Điền và Vũ Quang; chưa triển khai thu mẫu ở các đai cao hơn (từ 1.000 m đến đỉnh Rào Cỏ 2.286 m).
- Phương pháp thu mẫu: Chưa thu thập được nhóm côn trùng cánh cứng thủy sinh (sống dưới nước) và nhóm có khả năng bay nhanh ở tầng tán cao do hạn chế về thiết bị bẫy tán rừng và bẫy đèn công suất lớn.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng thời gian điều tra trải đều qua các mùa khác nhau trong năm, đặc biệt là giai đoạn mùa hè và mùa mưa để ghi nhận đầy đủ các pha phát triển của các họ Cánh cứng.
- Mở rộng phạm vi điều tra lên các đai cao trên 1.000 m, rừng trên núi đá và các sinh cảnh đặc thù dọc biên giới Việt - Lào.
- Ứng dụng bổ sung phương pháp bẫy đèn đêm chuyên dụng và vợt tầng tán cao; nghiên cứu sâu về đặc tính sinh học của các loài thiên địch tiềm năng nhằm phục vụ công tác phòng trừ sinh học sâu hại rừng.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này cung cấp giá trị sử dụng cụ thể cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Bảo vệ thực vật và Sinh thái học: Tham khảo quy trình điều tra thực địa theo quy phạm lâm sinh (phương pháp chọn cây tiêu chuẩn 5 mốc, kỹ thuật lập ô dạng bản 1 m² đào tầng đất 10 cm, kỹ thuật đặt bẫy hố có mồi cám rang và phương pháp tính tần số bắt gặp $P%$).
- Cán bộ kỹ thuật tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên vùng Bắc Trung Bộ: Sử dụng danh lục 51 loài làm tài liệu đối sánh thành phần loài côn trùng cánh cứng, phục vụ công tác kiểm kê đa dạng sinh học và lập phương án quản lý bảo vệ rừng.
- Nghiên cứu sinh thái học côn trùng: Tham khảo số liệu định lượng về phân bố côn trùng theo các trạng thái rừng phục hồi sau khai thác (trạng thái IIb so với các trạng thái IIIA1, IIIA2 và rừng trồng).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận ghi nhận được bao nhiêu loài côn trùng bộ Cánh cứng và họ nào chiếm tỷ lệ lớn nhất?
Tác giả đã thu thập và giám định được 51 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera), phân bố trong 13 họ khác nhau. Trong đó, họ Bọ cánh cứng ăn lá (Chrysomelidae) chiếm số lượng loài nhiều nhất với 17 loài (chiếm 33,33% tổng số loài), tiếp theo là họ Bọ rùa (Coccinellidae) với 7 loài (13,73%), họ Bọ hung (Scarabaeidae) và họ Hành trùng (Carabidae) đều có 6 loài (11,77%).
2. Vì sao trạng thái rừng phục hồi IIb lại có số loài côn trùng cánh cứng tập trung cao nhất?
Trạng thái rừng cây tiên phong phục hồi sau khai thác kiệt (IIb) ghi nhận tới 35 loài (chiếm 68,63% tổng số loài). Nguyên nhân do trạng thái này sở hữu thảm thực vật phong phú về loài cây và cấu trúc tầng thứ, cung cấp nguồn thức ăn dồi dào (chồi non, lá, mùn bã thực vật). Đồng thời, tầng tán che phủ giúp lớp thảm mục mặt đất giữ được độ ẩm ổn định, không quá ướt, tạo môi trường thuận lợi cho cả côn trùng hoạt động trên tán và dưới đất.
3. Tỷ lệ bắt gặp (P%) của các loài côn trùng được phân chia như thế nào và có loài nào đạt cấp thường gặp không?
Tác giả phân chia theo 3 cấp độ: Thường gặp ($P \ge 50%$), Ít gặp ($25% < P \le 50%$) và Ngẫu nhiên gặp ($P \le 25%$). Kết quả không có loài nào đạt cấp thường gặp ($P \ge 50%$). Chỉ có 5 loài đạt cấp ít gặp với cùng tỷ lệ $P = 28,57%$ (gồm Rodolia pumila, Holotrichia sauteri, Anomala veriegata, Chlaenius naeuger, Hypomeces squamosus); 46 loài còn lại thuộc nhóm ngẫu nhiên gặp (trong đó 26 loài có $P < 10%$).
4. Hai loài thiên địch tiêu biểu được mô tả chi tiết trong khóa luận có đặc điểm hình thái và tập tính gì?
- Bọ rùa đỏ (Rodolia pumila Weiser): Cơ thể hình bán cầu dài 3–5 mm màu đỏ cam, mặt bụng phẳng màu đen, râu đầu hình chùy ngắn; cả sâu non và trưởng thành chuyên săn ăn rệp sáp, rệp ống; có khả năng tiết chất dịch màu vàng tự vệ từ khớp chân.
- Hành trùng (Chlaenius inops Chaudoir): Kích thước 8–12 mm, cơ thể màu đen, râu sợi chỉ 11 đốt, chân dài thích nghi chạy nhanh; hoạt động săn mồi lúc chập tối, thức ăn là sâu non bộ Cánh vẩy và ấu trùng bọ hung; tiết chất cay hôi khó chịu khi bị đe dọa.
5. Yếu tố nhân sinh nào tại vùng đệm VQG Vũ Quang đe dọa trực tiếp đến môi trường sống của côn trùng cánh cứng?
Tập quán chăn thả rông trâu bò vào rừng tự nhiên làm giẫm đạp, phá hủy cấu trúc thảm mục và cây con tái sinh. Bên cạnh đó, việc khai thác gỗ, củi, măng trái phép, canh tác nương rẫy dưới chân núi và nguy cơ sử dụng hóa chất nông nghiệp tại vùng đệm làm suy giảm sinh cảnh và nguồn thức ăn tự nhiên của côn trùng.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Phan Thị Mến đã phản ánh bức tranh thực nghiệm về khu hệ côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn quốc gia Vũ Quang qua việc xác định 51 loài thuộc 13 họ, trong đó họ Chrysomelidae chiếm ưu thế cao nhất. Kết quả nghiên cứu chứng minh mối tương quan rõ rệt giữa mức độ đa dạng thành phần loài với trạng thái sinh cảnh rừng, với sự tập trung vượt trội ở trạng thái rừng phục hồi IIb. Dù còn hạn chế về thời gian khảo sát thực địa trong điều kiện thời tiết lạnh và phạm vi thu mẫu ở vành đai đất thấp, công trình đã đóng góp cơ sở dữ liệu định lượng và đề xuất các giải pháp bảo vệ sinh cảnh, kiểm soát chăn thả và ứng dụng thiên địch thiết thực cho công tác quản lý tài nguyên sinh học tại khu vực.