ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nƣớc nhiệt đới. Rừng và đất rừng chiếm 2/3 diện tích đất đai cả nƣớc. Rừng có nhiệm vụ điều hòa nƣớc, điều hòa khí hậu, là nơi cƣ trú của động thực vật và cất giữ các nguồn gen quý hiếm. Ngoài ra, rừng còn là chỉ tiêu quan trọng về môi trƣờng, an ninh – quốc phòng.
Vì vậy mất rừng, sự thu hẹp về diện tích và sự thu hẹp về diện tích và suy giảm về chất lƣợng rừng đang là hiểm họa đe dọa trực tiếp đến đời sống con ngƣời, đến tính đa dạng sinh học của rừng. Thống kê từ năm 1991 đến tháng 10/2008, tổng diện tích rừng bị mất là 399,118 ha, bình quân 57,019 ha/năm. Trƣớc thực trạng đó, Đảng và Nhà nƣớc đã có nhiều những chủ trƣơng, những quyết sách để từng bƣớc khôi phục và mở rộng diện tích rừng, đánh giá việc xây dựng các hệ thống Khu bảo tồn, Vƣờn quốc gia để lƣu giữ và quản lý tài nguyên rừng thực sự có ý nghĩa rất lớn… Côn trùng là nhóm đa dạng nhất trên Trái Đất, với hơn 1 triệu loài đã đƣợc mô tả - chiếm hơn một nửa tổng số tất cả các loài sinh vật sống mà con ngƣời biết đến, với ƣớc lƣợng về số loài chƣa đƣợc mô tả lên tới 30 triệu, và do đó có thể đại diện cho hơn 90% các dạng sống khác nhau trên hành tinh. Trong các loài côn trùng tôi đặc biệt quan tâm đến các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera).
Đây là bộ có vai trò rất to lớn trong hệ sinh thái, chúng là một mắt xích trong chuỗi thức ăn và tham gia vào quá trình phân giải chất hữu cơ, trả lại môi trƣờng nguồn dinh dƣỡng cho các sinh vật khác sử dụng, làm tơi xốp đất. Một số loài côn trùng cánh cứng là thiên địch của nhiều loài sâu hại. Nhờ có các loài thiên địch này mà hạn chế đƣợc tác hại do các loài sâu hại gây ra cho con ngƣời cũng nhƣ môi trƣờng sống nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó còn có những mặt tiêu cực do các loài cánh cứng gây hại gây ra nhƣ: chúng phá hoại hàng ngàn ha rừng hàng năm gây thiệt hại về kinh tế và môi trƣờng.
Từ thực tế đó, trong chiến lƣợc bảo tồn đa dạng sinh học tại các vƣờn quốc gia, khu bảo tồn cần quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng cánh cứng. 1 Vũ Quang đƣợc công nhận là khu bảo tồn năm 1986 với tổng diện tích 16000 ha và trở thành Vƣờn Quốc gia năm 2002 với diện tích đƣợc mở rộng hơn 55. Từ trƣớc năm 1992 ở đây chƣa có cuộc điều tra khảo sát nào về tài nguyên động, thực vật tại VQG Vũ Quang. Cho đến nay cũng chỉ có một số ít tài liệu nghiên cứu về các loài thực vật, các loài thú lớn.
Năm 2009, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR), Việt Nam phối hợp cùng Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Leiden (NATURALIS), Hà Lan tiến hành khảo sát sơ bộ về côn trùng ở Vƣờn quốc gia nhƣng chƣa có nghiên cứu cụ thể nào về các loài, các giải pháp quản lý và sử dụng côn trùng cho khu vực. Vì vậy, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu tính đa dạng loài và giải pháp bảo tồn côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn quốc gia Vũ Quang – Hà Tĩnh” 2 PHẦN I LƢỢC SỬ NGHIÊN CỨU Trong thế giới động vật, côn trùng là lớp phú và đa dạng nhất trên trái đất. Chúng xuất hiện cách đây khoảng 350 triệu năm và trong hơn 1200000 loài động vật mà con ngƣời đã biết thì côn trùng chiếm hơn 1 triệu loài. Do tầm quan trọng của côn trùng trong cuộc sống của chúng ta, không chỉ về số lƣợng của chúng mà những mặt có lợi và có hại mà chúng gây ra cho con ngƣời.
Cho nên đã có nhiều nhà nghiên cứu cho ra đời các cuốn sách nói về tầm quan trọng của côn trùng và cách quản lý chúng. Nghiên cứu côn trùng cánh cứng trên thế giới Côn trùng bộ Cánh cứng chiếm một số lƣợng lớn trong hệ côn trùng, và đã có rất nhiều những nghiên cứu về chúng. Đó là những nghiên cứu cơ bản về đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài sâu hại, loài có ích để đƣa ra biện pháp quản lý. Kết quả nghiên cứu của các công trình trong lĩnh vực này có thể tóm tắt nhƣ sau: Hội côn trùng học trên thế giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1745.
Hội côn trùng ở Nga thành lập năm 1859. Nhà côn trùng Nga Keppen (1882 – 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều đến bộ Cánh cứng. Trong danh lục côn trùng thế giới, Aurivillus đã thống kê đƣợc 13465 loài xén tóc (1912 – 1923). Gần đây theo tài liệu của Trần Thế Lƣơng, Tạ Ôn Trinh và Quách Quốc Phiên thì số loài trên thế giới đã vƣợt quá con số 20000 loài (1959.
Trung Quốc kinh tế côn trùng chí) [11] Các nhà nghiên cứu Nga nhƣ Potarin (1899 – 1976), Provorovski (1895 – 1979), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản những tài liệu về côn trùng ở châu Á, Mông Cổ và miền tây Trung Quốc. Đến thế kỷ XIX đã xuất bản nhiều tài liệu về côn trùng ở châu Âu, châu Mỹ (gồm 40 tập). Trong các tài liệu đã nói trên đều đề cập đến các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng nhƣ: Mọt, Vòi voi, Xén tóc…[2] 3 Ở Trung Quốc môn Côn trùng lâm nghiệp đã đƣợc chính thức giảng dạy trong các trƣờng Đại học lâm nghiệp từ năm 1952, từ đó việc nghiên cứu về côn trùng đƣợc đẩy mạnh. Năm 1959, Trƣơng Chấp Trung [15] đã xuất bản cuốn “Sâm lâm côn trùng học”.
Từ năm 1965, giáo trình “Sâm lâm côn trùng học” đƣợc viết lại nhiều lần. Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loài bọ hại lá phá hoại nhiều cây rừng. Năm 1987 Thái Bang Hoa và Cao Thu Lâm [6] đã xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam”, trong đó đã xây dựng một bảng tra của ba họ phụ của họ Bọ lá (Chrysomelidae). Cụ thể họ phụ Chrysomelinea đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae đã giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae đã giới thiệu 93 loài.
Năm 1992, Tào Nhất Nam đƣa ra các tài liệu về thiên địch rất đáng quan tâm là “Tạp chí Bọ rùa Vân Nam”. Ở Mỹ, theo tài liệu sách hƣớng dẫn về lĩnh vực côn trùng ở Bắc châu Mỹ thuộc Mêhicô của Donal.Borror và Richard. White đã đề cập đến đặc điểm phân loại của 9 họ phụ họ Bọ cánh cứng ăn lá (Chrysomelidae)[4]. Theo Lesne (1938) và Lepesme (1944) thì riêng họ mọt dài Bostrychidae đã phát hiện 79 giống gồm 455 loài có trên toàn thế giới.
Trong đó Việt Nam đã phát hiện đƣợc 15 giống gồm 34 loài, nếu lấy trên toàn lãnh thổ Đông Dƣơng thì có 16 giống, 35 loài chiếm 20% giống và 7,7% số loài trên thế giới [11]. Nghiên cứu về côn trùng trong nƣớc Các nghiên cứu về côn trùng cũng nhƣ côn trùng cánh cứng trong nƣớc nhìn chung không nhiều, đặc biệt là côn trùng lâm nghiệp. Một số các nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu tập trung vào nhóm côn trùng có hại, biện pháp phòng trừ và chỉ một vài nghiên cứu về côn trùng có ích. Nhƣng nói chung những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức độ là báo cáo, tài liệu giảng dạy trong phạm vi hẹp đối với một số loài đại diện.
Trên thực tế, ở nƣớc ta chƣa có tài liệu đầy đủ về côn trùng để phục vụ công tác nghiên cứu, tra cứu và ứng dụng. 4 Gần đây, do yêu cầu của thực tiễn sản xuất và sinh thái môi trƣờng, nghiên cứu côn trùng đƣợc chú ý hơn, các nghiên cứu cơ bản về tài nguyên côn trùng đã đƣợc triển khai và thu đƣợc những kết quả bƣớc đầu. Cụ thể các nghiên cứu cơ bản về tài nguyên côn trùng đáng chú ý sau: Năm 1973, Đặng Vũ Cẩn có cuốn “Sâu hại rừng và cách phòng trừ” giới thiệu một số loài sâu Bọ hung hại lá bạch đàn là: Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauser), Bọ hung nâu nhỏ (Maladera sp.), sâu trƣởng thành của nhóm này thƣờng sống ở trên tất cả các giống bạch đàn. Qua điều tra ở trại Long Phú Hải – Đông Triều – Quảng Ninh cho thấy Bọ hung nâu nhỏ (Maladera sp.) gây hại bạch đàn trắng nhiều hơn bạch đàn đỏ.
Bên cạnh đó, tác giả còn cho biết thêm một số loài sâu khác nhƣ: Bọ vừng (Lepidota bioculata), Bọ sừng (Xylotrupes gideon L.), Bọ cánh cam (Anomala cupripes Hope),…[3] Theo tài liệu của Viện Bảo vệ thực vật đƣợc ấn hành 1976 là kết quả điều tra côn trùng trong những năm 1967 – 1968 ở Bắc Việt Nam trong đó ghi nhận có 75 giống gồm 98 loài Xén tóc đã đƣợc định loại trong số 127 loài đã đƣợc thu thập [11]. Năm 2008, Thông tin Khoa học lâm nghiệp số 2, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trƣờng, Bùi Trung Hiếu trong: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài Vòi voi lớn (Cyrtotrachelus buqueti) và đề xuất giải pháp phòng trừ tại khu vực Mai Châu – Hòa Bình” đã đƣa ra kết luận: Vòi voi lớn gây hại nhiều nhất vào tháng 6,7,8 trong đó biện pháp bảo vệ măng đem lại hiệu quả cao. Tại VQG Vũ Quang, do mới thành lập nên chỉ có 1số các nghiên cứu về thực vật và các loài thú còn côn trùng thì hầu nhƣ chƣa đƣợc nghiên cứu. 5 PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc thành phần loài và đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài chủ yếu thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera). - Đề xuất đƣợc một số biện pháp quản lý các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng: Côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu: + Địa điểm: tại xã Hƣơng Điền và xã Vũ Quang của VQG Vũ Quang – Hà Tĩnh + Thời gian: từ ngày 14/2/2011 đến ngày 13/05/2011 2. Nội dung nghiên cứu - Xác định thành phần loài thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu.
- Đặc điểm phân bố của các loài thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu - Đánh giá tính đa dạng loài. - Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất một số biện pháp giám sát và quản lý các loài côn trùng tại khu vực nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.