Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống trải rộng trên tổng diện tích tự nhiên 160.686 ha, thuộc địa bàn 5 huyện miền Tây tỉnh Nghệ An, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi chiếm 40.127,7 ha. Mặc dù sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới mưa ẩm phong phú với 1.122 loài thực vật bậc cao và 291 loài động vật có xương sống có mặt trong Sách Đỏ, khu hệ côn trùng tại đây chưa từng được khảo sát toàn diện trước năm 2008. Thực trạng gia tăng dân số với 322 hộ dân sinh sống ngay trong vùng lõi cùng áp lực khai thác tài nguyên đang đẩy nhiều quần thể sinh vật vào nguy cơ suy thoái nghiêm trọng.

Đề tài nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá toàn diện mức độ phong phú, đa dạng thành phần loài, quy luật phân bố không gian và giá trị sinh thái của khu hệ côn trùng tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các giải pháp khoa học mang tính khả thi cao nhằm quản lý, bảo tồn nguồn gen và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ tháng 06/2008 đến tháng 06/2010 tại 5 khu vực trọng điểm đại diện cho các trạng thái rừng tự nhiên. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi ghi nhận và định tên 419 loài côn trùng điều tra thực địa, đồng thời tổng hợp và bổ sung danh lục 558 loài thuộc 84 họ của 15 bộ côn trùng cho kho tàng đa dạng sinh học của tỉnh Nghệ An và vùng Bắc Trường Sơn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết đa dạng sinh học theo chuẩn của Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên và Từ điển Đa dạng sinh học, tiếp cận ở 3 cấp độ: đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái. Trong đó, đa dạng loài và mối quan hệ giữa các quần xã côn trùng với cấu trúc thảm thực vật được lấy làm trọng tâm khảo sát.

Nghiên cứu kết hợp hệ thống phân loại sinh học côn trùng học cổ điển của Carl von Linne với hệ thống phân loại học hiện đại của giáo sư Nguyễn Viết Tùng. Các mô hình định lượng sinh thái học được đưa vào để đo lường cấu trúc quần xã, bao gồm chỉ số phong phú Margalef nhằm đánh giá độ giàu loài theo mật độ cá thể và công thức tương quan Stugren - Radulescu nhằm xác định mức độ tương đồng giữa các sinh cảnh rừng. Hệ thống phân chia trạng thái rừng theo Loeschau được áp dụng để đối chiếu 5 sinh cảnh chính: rừng thứ sinh xa suối, rừng thứ sinh ven suối, rừng hỗn giao tre nứa, rừng giang nứa thuần loài và khu dân cư nương rẫy.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu được thu thập qua 4 đợt điều tra thực địa trong giai đoạn 24 tháng từ tháng 06/2008 đến tháng 06/2010. Thiết kế nghiên cứu bao gồm 13 tuyến khảo sát đi qua 45 điểm điều tra cố định có bán kính tiêu chuẩn 10 mét. Để khảo sát côn trùng tầng đất, tác giả bố trí 5 ô dạng bản kích thước 1m x 1m tại mỗi điểm điều tra. Đối với nhóm côn trùng thân gỗ mục, nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 2 cây đổ trên mỗi tuyến với 9 ô dạng bản kích thước 1.000 cm2 trên mỗi thân cây.

Dữ liệu xã hội học được thu thập qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn và đánh giá nông thôn có sự tham gia với 30 phiếu phỏng vấn người dân và cán bộ lâm nghiệp. Dụng cụ thực địa chuyên dụng gồm máy định vị GPS Magellan Triton 2000, ống nhòm chuyên dụng Nikon 8x40 Ex, vợt bắt cán dài 2,5 mét có đường kính miệng 35 cm và hệ thống bẫy đèn sử dụng ắc quy N25 cùng bóng đèn HuaDa 25W kiểm tra định kỳ 2 giờ một lần.

Phương pháp kết hợp quan sát ngày, bẫy đèn đêm và thu mẫu ô tiêu chuẩn được lựa chọn vì tính chất phân bố hoạt động đa dạng theo chu kỳ sinh học của từng bộ côn trùng, đảm bảo mẫu vật thu được mang tính đại diện cao nhất. Toàn bộ mẫu vật được xử lý khô cắm kim hoặc ngâm dung dịch formaline 5% và giám định chính xác tại Bộ môn Bảo vệ Thực vật rừng thuộc Đại học Lâm nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống đã ghi nhận và định danh chính xác 419 loài côn trùng thuộc 83 họ của 15 bộ khác nhau. Khi kết hợp với các nghiên cứu kế thừa từ vùng phụ cận, danh lục côn trùng tại khu bảo tồn đã xác định được tổng cộng 558 loài thuộc 84 họ của 15 bộ.

Cấu trúc thành phần loài cho thấy sự áp đảo rõ nét của hai nhóm chính. Bộ Cánh cứng (Coleoptera) chiếm số lượng lớn nhất trong đợt thu thập thực địa với 149 loài, chiếm tỷ lệ 35,56%, và đạt 182 loài chiếm 32,62% trong tổng danh lục toàn khu. Bộ Cánh phấn (Lepidoptera) đứng thứ hai trong thu mẫu thực địa với 121 loài, chiếm tỷ lệ 28,88%, nhưng dẫn đầu toàn khu với 190 loài chiếm 34,05%.

Bộ Cánh nửa (Hemiptera) chiếm vị trí thứ ba với 52 loài ghi nhận thực tế chiếm 12,41%, tổng số đạt 68 loài chiếm 12,19%. Bộ Cánh màng (Hymenoptera) ghi nhận 29 loài chiếm 6,92%, tổng số đạt 41 loài chiếm 7,35%. Các bộ Chuồn chuồn (Odonata) và Cánh thẳng (Orthoptera) cùng đạt 16 loài trong đợt thu mẫu thực địa, tương ứng 3,82%.

Khảo sát kinh tế - xã hội chỉ ra rằng đời sống của 322 hộ dân vùng lõi phụ thuộc rất lớn vào rừng. Tỷ lệ hộ nghèo và đói tại các bản lõi ở mức báo động: bản Na Kho có 68% hộ đói và 15% hộ nghèo; bản Páu Pậu có 66% hộ đói và 19% hộ nghèo. Tình trạng canh tác du canh, đốt than, săn bắt và khai thác vàng sa khoáng trái phép tại khe Ngân và khe Ton đang trực tiếp xâm hại nơi cư trú của các loài côn trùng bản địa.

Thảo luận kết quả

Sự phong phú vượt trội của bộ Cánh cứng và bộ Cánh phấn phản ánh sự toàn vẹn tương đối của các kiểu thảm thực vật nhiệt đới mưa ẩm tại đai cao 200 đến 900 mét. Rừng lá rộng thường xanh với các họ thực vật ưu thế như Re, Dẻ, Cà phê và Dầu cung cấp chuỗi thức ăn dồi dào cho các loài ăn lá, hút mật hoa và nhóm ăn gỗ mục. Khi đối chiếu với Vườn Quốc gia Pù Mát lân cận, nơi ghi nhận 1.084 loài côn trùng, tỷ trọng ưu thế của bộ Cánh phấn và Cánh cứng tại Pù Huống có sự tương đồng sinh thái sâu sắc về cấu trúc phân tầng sinh cảnh.

Dữ liệu nghiên cứu về sự tương quan sinh thái có thể được minh họa trực quan qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu tỷ lệ phần trăm giữa 15 bộ côn trùng, kết hợp bảng ma trận chỉ số tương đồng Stugren - Radulescu. Bảng đối chiếu này cho thấy mối quan hệ gần gũi giữa khu hệ côn trùng ở sinh cảnh rừng thứ sinh ven suối và rừng hỗn giao gỗ tre nứa, nơi có độ ẩm cao và độ che phủ thực vật lớn nhất. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng việc bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng không thể tách rời việc giữ gìn cấu trúc tự nhiên của toàn bộ hệ sinh thái rừng đầu nguồn sông Cả và sông Hiếu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm quản lý và phát triển bền vững tài nguyên côn trùng tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống:

Thứ nhất, thiết lập mạng lưới giám sát định kỳ đa dạng sinh thái côn trùng. Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống cần chủ trì duy trì việc kiểm tra định kỳ 2 đợt mỗi năm tại 45 điểm điều tra cố định, đảm bảo theo dõi biến động số lượng của các loài chỉ thị môi trường và duy trì dữ liệu giám sát ổn định trên 500 loài trong giai đoạn 2011 đến 2015.

Thứ hai, triển khai mô hình nhân nuôi bán tự nhiên các loài côn trùng có giá trị kinh tế và thẩm mỹ cao. Ủy ban nhân dân 5 huyện vùng đệm gồm Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông và Tương Dương cần phối hợp với các viện nghiên cứu chuyển giao quy trình nuôi ong lấy mật và nuôi các loài bướm cảnh cho 150 hộ dân, hướng tới mục tiêu nâng thu nhập bình quân của các hộ nghèo lên trên mức 2.000.000 đồng một người mỗi năm.

Thứ ba, tăng cường tuần tra kiểm soát và bảo vệ nghiêm ngặt 40.127,7 ha vùng lõi. Lực lượng Kiểm lâm phối hợp với Trạm Quản lý rừng phòng hộ tập trung triệt phá dứt điểm các điểm khai thác khoáng sản trái phép tại khe Ngân và khe Ton, đồng thời giảm 70% các vụ cháy rừng và đốt nương làm rẫy trên toàn bộ 7 xã trọng điểm trước năm 2015.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và giáo dục môi trường cho cộng đồng dân cư. Ban quản lý cần tổ chức các lớp tập huấn nhận thức cho 100% bản làng vùng lõi, lồng ghép tài liệu bảo tồn 63 loài thực vật quý hiếm và các loài côn trùng hữu ích vào chương trình sinh hoạt cộng đồng và trường học địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu này mang lại giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm cán bộ quản lý và kiểm lâm tại các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu nền tảng gồm 558 loài côn trùng để xây dựng phương án bảo tồn đa dạng sinh học rừng Bắc Trung Bộ.

Nhóm nhà nghiên cứu côn trùng học, lâm nghiệp và bảo vệ thực vật: Tham khảo quy trình phân loại chuyên sâu, phương pháp tính toán chỉ số Margalef, Stugren - Radulescu và kỹ thuật làm mẫu khô mẫu ngâm cho 15 bộ côn trùng rừng nhiệt đới.

Nhóm học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Môi trường và Sinh thái học: Sử dụng như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp công cụ xã hội học nông thôn với điều tra tuyến thực địa lâm nghiệp.

Nhóm cán bộ hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương: Tiếp cận các luận cứ khoa học thực tế để xây dựng phương án sinh kế giảm nghèo cho cộng đồng dân tộc thiểu số gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ 160.686 ha lưu vực đầu nguồn.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã ghi nhận và bổ sung bao nhiêu loài côn trùng cho Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống? Nghiên cứu đã điều tra thực địa và định tên chính xác 419 loài côn trùng thuộc 83 họ của 15 bộ. Khi tổng hợp kết quả điều tra kế thừa từ các vùng phụ cận, danh lục khu hệ côn trùng tại khu bảo tồn được nâng lên 558 loài thuộc 84 họ, cung cấp nguồn dữ liệu sinh học đầu tiên cho khu vực.

Bộ côn trùng nào chiếm ưu thế lớn nhất trong cấu trúc quần xã tại Pù Huống? Bộ Cánh cứng (Coleoptera) và bộ Cánh phấn (Lepidoptera) chiếm ưu thế áp đảo nhất. Trong các đợt thu bắt thực địa, bộ Cánh cứng chiếm tỷ lệ 35,56% với 149 loài và bộ Cánh phấn chiếm 28,88% với 121 loài nhờ thảm thực vật rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh cung cấp nguồn thức ăn phong phú.

Tác giả đã áp dụng những kỹ thuật thu mẫu thực địa nào để bảo vệ các loài quý hiếm? Tác giả kết hợp quan sát bằng ống nhòm Nikon 8x40 Ex, ghi hình kỹ thuật số, dùng vợt cán dài 2,5 mét và bẫy đèn đêm có chu kỳ kiểm tra 2 giờ một lần. Kỹ thuật kiểm tra bẫy đèn thường xuyên cho phép giải thoát kịp thời các cá thể côn trùng quý hiếm hoặc không thuộc diện thu mẫu.

Áp lực sinh kế của người dân ảnh hưởng như thế nào đến tài nguyên côn trùng tại khu bảo tồn? Khảo sát tại 5 thôn bản cho thấy tỷ lệ hộ đói nghèo vượt quá 80% tại các bản vùng lõi như Na Kho và Páu Pậu. Việc du canh nương rẫy, đốt rừng làm than và khai thác vàng sa khoáng trái phép đã làm chia cắt và suy thoái các sinh cảnh rừng ẩm ven sông suối vốn là nơi cư trú trọng yếu của côn trùng.

Các số liệu của luận văn có thể ứng dụng trực tiếp vào công tác bảo tồn lâm nghiệp như thế nào? Dữ liệu 45 điểm điều tra cố định và danh lục các loài chỉ thị môi trường giúp Ban Quản lý thiết lập hệ thống quan trắc sinh thái định kỳ, đồng thời lựa chọn các loài côn trùng có ích để chuyển giao mô hình nuôi bán tự nhiên giúp cải thiện sinh kế người dân.

Kết luận

Những đóng góp chính và định hướng phát triển từ công trình nghiên cứu bao gồm:

  • Xây dựng danh lục khoa học đầu tiên gồm 558 loài côn trùng thuộc 84 họ của 15 bộ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống, lấp đầy khoảng trống dữ liệu sinh học kéo dài nhiều năm tại khu vực.
  • Xác định cấu trúc ưu thế vượt trội của bộ Cánh cứng (chiếm 32,62% tổng số loài) và bộ Cánh phấn (chiếm 34,05% tổng số loài) gắn liền với các trạng thái rừng nhiệt đới thường xanh ẩm.
  • Phân tích chi tiết đặc tính phân bố không gian qua 13 tuyến khảo sát và 45 điểm điều tra đại diện cho 5 sinh cảnh sinh thái đặc trưng.
  • Đánh giá toàn diện 5 mối đe dọa trực tiếp bắt nguồn từ đời sống khó khăn của 322 hộ dân sinh sống trong vùng lõi bảo tồn nghiêm ngặt.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa kỹ thuật lâm sinh, tuần tra kiểm soát nghiêm ngặt và chuyển đổi sinh kế bền vững giai đoạn 2011 đến 2015.

Trong giai đoạn tiếp theo từ 3 đến 5 năm tới, các cơ quan chuyên môn cần mở rộng tuyến điều tra lên đai cao trên 900 mét và đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của các loài thiên địch ký sinh. Các nhà khoa học, nhà quản lý và chính quyền địa phương hãy cùng chung tay khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu này để hoạch định những chính sách phát triển lâm nghiệp bền vững cho khu vực miền Tây xứ Nghệ.