chương 1 này đã làm rõ các vấn đề về cơ sở lý luận để làm tiền đề cho việc khai thác thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tại đền Lăng Sương. 17 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI ĐỀN LĂNG SƢƠNG TẠI XÃ TRUNG NGHĨA, HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ 2. Giới thiệu chung về đền Lăng Sƣơng 2. Một số truyền thuyết liên quan đến Đức Thánh Tản.
Đất An Nam, Tản Viên Sơn truyền là: Linh thần của nước, từ trên đỉnh núi đã lập đền thờ và năm Nhâm Tý, vào tháng Giêng lập bản đồ các cung điện để thờ. Đời Hùng Vương thứ 18, ở xứ Sơn Tây, đạo Hưng Hóa, phủ Gia Hưng, huyện Thanh Xuyên, động Lăng Sương, (nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy) có núi cao, đất phẳng, suối trong, sơn thủy hữu tình đẹp như tranh vẽ, cây cỏ tươi tốt, chim kêu, vượn hót, rồng chầu, hổ phục, hạc vẫy cánh, mây mù, sương tỏa, hồ nước lung linh như ngăn cản bụi trần. Một phong cảnh đẹp nhất trời đất Nam. Lúc bấy giờ ở nơi đây có trưởng ông Nguyễn Cao Hành kết duyên với bà Thái Vĩ húy Đinh Thị Điêng (Đen).
Hai ông bà giàu sang phú quý, tu nhân tích đức, ba sinh hương hỏa, nhất mực phong lưu. Chỉ hiềm một nỗi ông đã ngoài bảy mươi bà đã ngoài năm mươi tuổi mà chưa có con nối dõi. Họ bàn với nhau về mang của cải, thóc gạo trong nhà phân phát cho người nghèo khó làm phúc, cầu lấy một chút thừa tự cho lòng người nhẹ nhõm. Ông bà dốc lòng làm việc phúc, gắng sức làm điều nhân.
Quả nhiên, vào một ngày đẹp trời, bỗng có con rồng vàng sà xuống giếng Thiên Thanh hút nước, phun châu, nhả ngọc, sóng nổi khí thiêng dưới đáy giếng. Một hồi lâu, con rồng theo mây bay đi. Tự nhiên, bốn bề gió mát như có hiện tượng đón quý nhân. Bà Đen (bà Thái Vĩ) múc nước tắm bỗng thấy người thơm ngào ngạt, bà rùng mình thấy người khang khác.
Lạ thay, sau 14 tháng mang thai, đến ngày rằm tháng Giêng năm Đinh Tỵ, đang ngồi chơi trên phiến đá, bà thấy quanh người hương thơm ngào ngạt như ngày gặp rồng vàng, mây ng sắc tứ phương kéo đến, bà 18 chuyển dạ. Trong con vượt cạn sinh con, bà quỳ trên tảng đá, một tay Người chống trước mặt, tay kia đỡ con. Đúng giờ Thìn ngày hôm đó, bà sinh được người con trai mang phong thái thần tiên, khôi ngô, dĩnh ngộ khác thường. Bà nhờ người làng đi hái măng qua đó lấy nước ở giếng Thiên Thanh giúp để bà tắm rửa cho con.
Sau một trăm ngày, ông bà đặt tên con là Nguyễn Tuấn. Ngay qua, tháng lại, khi Nguyễn Tuấn 6 tuổi thì cha mất, hai mẹ con kêu khóc thảm thiết rồi cùng đi chọn đất tốt làm lễ an táng cha. Từ đấy, gia tài đều cạn sạch. Nǎm Nguyễn Tuấn lên 7 tuổi, hai mẹ con Nguyễn Tuấn phải sang núi thiêng Ba Vì kiếm củi đốt than tìm kế sinh nhai.
Hai mẹ con Nguyễn Tuấn đuợc bà Ma Thị Cao Sơn giúp đỡ. Hai bà kết làm bạn thân. Khi Nguyễn Tuấn 10 tuổi đổi tên thành Nguyễn Tùng. Năm 12 tuổi Nguyễn Tùng được cụ Dương Đường Tiên Sinh dạy thành thần đồng, có trí lớn học hành.
Nguyễn Tùng chịu khó làm lụng đỡ mẹ lại say mê đèn sách, thuộc làu thiên kinh vạn quyến. Sang núi Tản được một năm thì bà Thái Vĩ (Đinh Thị Đen) mất, Nguyễn Tùng đưa mẹ về quê Lăng Sương mai táng và thờ cúng chu đáo. Ba năm đoạn tang mẹ, Nguyễn Tùng lại sang núi Ngọc Tản sinh sống và nhận làm con nuôi bà Ma Thị Cao Sơn thần nữ. Nguyễn Tùng lại cùng mẹ nuôi kiếm củi.
Một hôm, Nguyễn Tùng lên núi chặt một cây cổ thụ to và dài, chưa kịp mang về. Ngày hôm sau khi Người lên đó, thấy cây ấy sống lại, tốt tươi như c. Thấy việc kỳ lạ, Nguyễn Tùng lại chặt tiếp một cây nữa, rồi nấp ở bụi rậm gần đó đế ý xem sao. Đến nửa đêm.
Nguyễn Tùng nhìn thấy một ông già thân dài một trượng, râu tóc bạc phơ, đầu đội m hoa, mình khoác áo gấm, tay phải cầm gậy trúc thong thả bước đi như phượng múa. Đi sau ông là một đứa trẻ nhỏ, tay cầm một chiếc lục lạc vàng, lắc lắc ba hồi. Ông lão niệm thần chú, cầm gậy chỉ vào cây đổ, bỗng nhiên một trận gió mát thối tới, mây lành bảng lảng, khí thiêng rừng núi tụ về, đất trời biến hóa, trong phút chốc, gốc cây đã dựng lên, cây to sống lại. Nguyễn Tùng trông thấy rõ ràng, lập tức chạy tới, hai tay ôm lấy ông lão hỏi rằng: “Cụ là người ở đâu tới đây? Tên cụ là gì? Sao 19 lại tiếc thương một cây cố thụ đế cho kẻ nhỏ nhoi đói rét này không được cậy nhờ ? ».
Ông già nói: Ta là Thái Bạch Thần Tinh Tử vi Thiên Tướng, vâng chỉ Ngọc Hoàng cai quản nhân gian. Cây này chính là cây ngô đồng quý hiếm. Nó giúp cho Thánh Đế ra đời, lầu phượng dựng lên trên nhân gian. Không được chặt! Cho nên ta ra tay bảo vệ cây quý, gây phúc cho non sông".
Nguyễn Tùng cúi đầu lạy tạ, nói rằng: ““Lời nói của Thiên Tướng sáng soi suốt được lòng người như kính, như gương, ai mà chẳng nghe theo. Nhưng đời người ở cõi trần như đám ngựa hoang, ngắn ngủi như kiếp phù du, có có không không, sinh sinh hoá hóa trời biến hóa khôn lường, sựu việc đổi thay không biết thế nào.Nay tôi muốn được cây gậy thiêng và lời chú để cứu sinh tử nhân gian, bảo đáp ơn sâu cha mẹ, rát mong được Thiên Tướng ban cho”. Ông lão nghe nói biết Nguyễn Tùng là nguời đại hiếu chẳng phải người thường, tức thời lấy cây gậy cùng lời niệm chú trao cho Nguyễn Tùng, rồi dặn lại rằng : “Đầu gậy có thể cứu tử,cứu sinh,cuối gậy có thể, trừ tai, trừ hại, chỉ đất, đât nứt, chỉ nước, nước cạn, phép màu linh nghiệm, cơ biến diệu huyền, duy chỉ lên trời thì mây bạt, sương tan, đừng sơ xuất! Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy!". Dặn xong, ông lão bay lên không trung va biến mất.
Nguyễn Tùng được cây gậy Thần và lười chú thì vui mừng khôn tả. Người trở về núi Tản Viên kể cho mẹ nuôi hay chuyện. Nghe xong, bà Ma Thị rất mừng vì con mình gặp được vị thần tiên, lại được thần tiên phù trợ. Bà liền đặt tên cho Nguyễn Tuấn là Sơn Tinh.
Nhìn Nguyễn Tuấn ngắm cây gậy một cách say mê vui vẻ, bà Ma Thị căn dặn:“Con phải luôn luôn nhớ rằng: Cây gậy này chỉ có phép màu nhiệm khi con biết tu nhân, tích đức, dùng nó làm việc thiện, nói điều hay, tránh mọi hành vi tàn ác, tham lam đố kỵ, luôn để tâm cứu đỡ người nghèo khó, cơ nhỡ, giúp cho họ có cuộc sống an lành. Một lần khác, Người đi đến bãi Trung Độ thuộc xã Ma Xá (còn có tên là bãi Trường Sa) bỗng thấy trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn đen rồi đem đùa nghịch. Sơn Tinh bèn 20 mua luôn con rắn ấy và mang xuống đặt sát mép nước, miệng đọc thần chú, chỉ đầu sinh của cấy gậy vào xác rắn. Lập tức con rắn sống lại.
Rắn đen dập đầu bái tạ rồi trườn xuống sông. Ngày hôm sau, có hai người hôi thăm đến động núi Tản gặp Sơn Tinh. Nhìn hai người lạ mặt, khăn áo trùng phùng, cả nhà rất ngạc nhiên. Người khách lạ tự giới thiệu: "Tôi là Thủy Tinh - Hoàng tử dưới Thủy Cung, còn đây là ngài Giao Long đô đốc.
Hôm qua, tôi đội lốt rắn đen đi ngao du trên dương gian không may gặp nạn, được Ngài cứu giúp. Tôi mang chuyện kế với phụ vương tôi, phụ vương rất cảm phục bèn sai chúng tôi lên mời Ngài xuống chơi dưới Thuỷ Cung cho tôi cơ hội báo đáp. Sơn Tinh đồng ý, Người bái tạ mẹ nuôi, xin đi theo lời mời. Ngày hôm đó khắp Long Cung mở tiệc đãi Sơn Tinh.
Yến tiệc xong, vua Thủy Tề sai lấy vàng bạc và báu vật để tạ ơn Sơn Tinh. Sơn Tinh nhất mực từ chối. Vua Thủy Tề cầm tay Sơn Tinh ôn tồn nói: “Công đức của Ngài lớn như biển, mà thấy của cải đều xem bằng một sợi tơ. Nay cả Long Cung chỉ có một cuốn Thần Thư Pháp Bí Quyền là cuốn Hoàng Bảo, tôi xin trao tặng cho Ngài để được báo đáp ơn cứu mạng con tôi.
Có cuốn thư (sách) này Ngài ước gì sẽ được nấy. Sơn Tinh vui vẻ nhận sách và xin phép ra về. Vua Thủy Tề sai thái tử dẫn quân tiễn Sơn Tinh về, Sơn Tinh về động Lăng Sương. Lúc bấy giờ Vua Hùng sinh được 20 hoàng tử và 6 công chúa nhưng yểu tử chỉ còn lại 2 người con gái.
Người con lớm là công chúa Tiên Dung đã gả cho Chử Đồng Tứ; còn lại công chúa Ngọc Hoa chưa chồng. Vua xuống chiếu truyền cho thiên hạ, hễ ai là người tài cao trí lớn, văn võ siêu phàm, đức độ, thông minh, Vua sẽ gả con gái và nhường ngôi báu cho. Ngày hôm đó, Vua tổ chức kén phò mã, khắp trên sông đầy thuyền, trước lầu xe ngựa dập dìu, các chàng trai từ khắp nơi kéo về dự thi. Muôn nhà trong cả nước, bốn biển anh hùng đều là kẻ được mặt này mất mặt khác, chẳng ai là toàn tài, đúng ý nhà Vua.
Hay tin, Sơn Tinh rủ Thủy Tinh cùng đi thi. Hai người đưa nhau tới kinh thành, cung kính trước nhà Vua tâu: “ Chúng thần tài hèn sức 21 mọn, may được sinh ra ở đất nước của Quốc Vương, trộm nghe Thánh Thượng mở cuộc thi tài kén rể. Chúng thần đến muộn, xin Thánh Thượng khai ân cho được dự thi". Nhà vua cả mừng và cho đánh trống hiệu lệnh.
Cuộc thi bắt đầu. Sơn Tinh trở về đỉnh núi; Thủy Tinh trở về đáy sông. Thủy Tinh trổ tài trước. Vị thần sông nước đọc thần chú, hô gió, gọi mưa.
Chỉ trong khoảnh khắc, bầu trời bỗng xám xịt, mưa to, gió lớn, mặt nước sóng dồn. Từ sâu thẳm lòng sông bày ra một góc trần ai kinh động cả một vùng trời đất mung lung, thiên hình vạn trạng, xuất quỷ nhập thần, biến hóa u minh, vạn vật đắm chìm trong nước, ai xem c ng phải sợ hãi. Đến lượt mình, Sơn Tinh dùng tay trái cầm sách ước, tay phải cầm gậy, miệng niệm thần chú. Lạ lùng thay, mọi thứ ô uế trước đầu gậy đều bị quét sạch như không.
Bỗng thấy núi Ng Nhạc nổi lên cao đến mấy nghìn vạn trượng lừng lững đứng giữa trời đất. Thú chạy tới chầu, chim về tụ hop, muôn hoa đua nở,ong bướm rập rờn.