Tổng quan nghiên cứu

Vườn Quốc gia Cát Tiên thuộc hệ thống Vùng sinh thái Global 2000 của WWF và được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2001, có tổng diện tích 71.920 ha. Trong đó, phân khu Cát Lộc với diện tích 27.530 ha là sinh cảnh sống sót cuối cùng của hai loài thú móng guốc lớn đặc biệt nguy cấp tại Việt Nam: Tê giác một sừng Java (Rhinoceros sondaicus annamiticus) và Bò tót (Bos gaurus). Cả hai loài đều đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng nghiêm trọng. Tê giác Java được xếp ở bậc Rất nguy cấp (CR) trong Sách Đỏ IUCN năm 2010 và Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, với số lượng toàn cầu ước tính chỉ còn 50 đến 70 cá thể. Bò tót thuộc nhóm Nguy cấp (EN) theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và nằm trong Nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP cấm khai thác thương mại.

Nghiên cứu được triển khai tại khu vực Cát Lộc và các xã vùng đệm như Phước Cát 2, Gia Viễn thuộc tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2010. Mục tiêu trọng tâm là đánh giá chính xác hiện trạng cá thể, cấu trúc giới tính, tập tính di chuyển, phạm vi sinh cảnh và các nhân tố đe dọa sinh tồn của hai loài. Việc thiếu hụt dữ liệu sinh học thực địa chuẩn xác trước đây đã dẫn đến nhiều bất cập trong quy hoạch không gian bảo tồn. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở khoa học then chốt nhằm thiết lập ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt cho vùng lõi 4.500 đến 5.000 ha của tê giác, đồng thời quản lý đàn bò tót quy mô khoảng 120 cá thể trước sức ép từ hoạt động nhân sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng Lý thuyết Sinh thái học Quần thể (Population Ecology Theory) kết hợp với Lý thuyết Bảo tồn Sinh cảnh (Habitat Conservation Theory) trong việc phân tích động thái sinh tồn của thú móng guốc lớn. Đề tài tích hợp Mô hình Quần thể Nhỏ (Small Population Paradigm) để đánh giá các nguy cơ suy thoái di truyền, mất cân bằng giới tính và xác suất tuyệt chủng cục bộ.

Nghiên cứu tiếp cận sâu các khái niệm chuyên ngành bao gồm: Sức chứa sinh cảnh (Carrying Capacity), Vùng hoạt động sinh thái (Home Range), Điểm khoáng sinh học tự nhiên (Mineral Licks), Hiện tượng đa hình chỉ thị phân tử (Microsatellite Polymorphism) và Áp lực nhân tác vùng đệm (Anthropogenic Edge Pressure). Các khái niệm này giúp làm sáng tỏ mối liên hệ giữa điều kiện dinh dưỡng, tập tính tìm kiếm khoáng chất và không gian phân bố của các loài thú quý hiếm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ dữ liệu sơ cấp qua điều tra thực địa theo tuyến, bẫy ảnh tự động, phân tích hình thái dấu vết và dữ liệu sinh học phân tử DNA từ mẫu phân.

Về cỡ mẫu và chọn mẫu: Tác giả tiến hành đo đạc 176 dấu chân tê giác tại 7 phân vùng sinh cảnh trọng điểm (như Bàu Chim, Bàu Trâu, Hang Dơi, Suối Đình Vũ) theo phương pháp chọn mẫu phân tầng sinh cảnh. Nghiên cứu sử dụng 2 chó nghiệp vụ chuyên dụng do WWF tài trợ trong giai đoạn từ tháng 10/2009 đến tháng 4/2010, thu thập thành công 22 mẫu phân tê giác tươi bảo quản trong cồn 95 độ để gửi phân tích DNA tại Đại học Queen (Canada). Với loài bò tót, đề tài kế thừa dữ liệu phân tích microsatellite từ mẫu phân do Viện Chăn nuôi thực hiện trên quần thể khoảng 120 cá thể.

Phương pháp phân tích hình thái móng giữa (Footprint Identification Technique) được lựa chọn vì tính ổn định kích thước vượt trội so với toàn bộ bàn chân khi di chuyển trên nền địa hình dốc. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) và công cụ SWOT được triển khai tại 4 buôn làng vùng lõi nhằm định lượng áp lực kinh tế - xã hội. Ứng dụng Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) cho phép chồng xếp bản đồ thảm thực vật với các tọa độ dấu vết thực địa, tạo lập bức tranh phân bố không gian có độ chính xác cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về hiện trạng quần thể Tê giác Java: Phân tích 176 mẫu đo dấu chân cho thấy chiều rộng toàn bộ bàn chân biến động rất lớn theo địa hình dốc (trung bình từ 176,32 mm tại Bàu Chim đến 208,93 mm tại Bàu Trâu). Tuy nhiên, chiều rộng móng giữa có tính ổn định cao và phân tách thành 2 nhóm kích thước rõ rệt: nhóm 1 từ 100 đến 105 mm tại khu vực Bàu Chim - Suối Tre và nhóm 2 từ 86 đến 95 mm tại khu vực Đắc Lớ - Bàu Trâu. Kết quả khẳng định chắc chắn khu vực Cát Lộc chỉ còn ít nhất 2 cá thể tê giác trưởng thành sinh sống, với khả năng tồn tại thêm 1 cá thể thứ 3 tại khu vực Hang Dơi. Đáng báo động, toàn bộ ảnh chụp từ bẫy ảnh tự động đều ghi nhận cá thể cái với sừng ngắn, và không phát hiện dấu hiệu sinh sản mới nào kể từ tháng 5/1989.

Thứ hai, về vùng hoạt động và tập tính sinh thái: Vùng hoạt động tập trung của tê giác bị thu hẹp nghiêm trọng, chỉ còn khoảng 4.500 đến 5.000 ha (chiếm chưa đầy 18% diện tích Cát Lộc) ở phía Nam. Khoảng cách di chuyển tối đa ghi nhận theo tuyến dài 16 km, ngắn hơn đáng kể so với mức 20 đến 25 km/ngày của tê giác Java tại Indonesia. Nghiên cứu đã định vị chính xác 6 điểm khoáng tự nhiên cốt yếu (như Bàu Chim ở độ cao 141 m, Bàu Trâu 356 m, Bàu Đình Rách 287 m, Đầm Cau 334 m) nơi tê giác thường xuyên lui tới uống nước và bổ sung vi chất.

Thứ ba, về quần thể Bò tót: Toàn Vườn Quốc gia Cát Tiên ghi nhận khoảng 19 đến 22 đàn bò tót với tổng số ước tính 120 cá thể, có cơ cấu đàn hoàn chỉnh gồm con đực, con cái và thú non. Bò tót hoạt động theo phạm vi rộng từ 27 đến 137 km2, di chuyển trung bình 3 km/ngày và chủ yếu kiếm ăn đêm tại các sinh cảnh rừng thường xanh, trảng cỏ và nương rẫy ven rừng.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu phân bố không gian và biến động kích thước móng giữa có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ phân tán kết hợp bản đồ nhiệt GIS. Qua đó thể hiện rõ nét sự chia cắt không gian sống thành hai phân khu độc lập bởi con suối Đắc Lớ có sườn dốc cao.

Nguyên nhân cốt lõi khiến vùng hoạt động của tê giác bị cô lập bắt nguồn từ sự phân mảnh sinh cảnh. Rừng thường xanh nguyên sinh giàu thức ăn chỉ còn 4.200 ha (chiếm 13,5%), trong khi rừng tre nứa lồ ô thứ sinh chiếm tới 12.300 ha (40,5%) và đất sản xuất nông nghiệp chiếm 3.000 ha. Hoạt động định cư của hơn 300 hộ dân tại các thôn bản vùng lõi (như Thôn 3, Thôn 4, buôn K'Lo K'ích, xã Đồng Nai Thượng) với tỷ lệ đói nghèo khoảng 30% đã tạo ra áp lực nặng nề từ nạn phá rừng làm rẫy, bẫy bắt thú và chăn thả gia súc tự do. So với quần thể khoảng 60 cá thể tại Vườn Quốc gia Ujung Kulon (Indonesia), quần thể tê giác Cát Lộc rơi vào hiệu ứng nút cổ chai di truyền cực kỳ nghiêm trọng, mất cân bằng giới tính và đứng trước bờ vực tuyệt chủng hoàn toàn nếu không có can thiệp chuyển vị kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Thực hiện di dời và tái định cư toàn diện: Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Tiên hoàn thành di dời 100% các hộ dân sinh sống tại Thôn 3, Thôn 4 (xã Phước Cát 2) và buôn K'Lo K'ích ra khỏi vùng lõi trước năm 2012, bàn giao lại toàn bộ 5.000 ha đất sinh cảnh phục vụ bảo tồn nghiêm ngặt.

Tăng cường năng lực tuần tra thực địa: Duy trì liên tục 2 Đội tuần tra và giám sát Tê giác - Bò tót chuyên trách hoạt động 24/7, ứng dụng thiết bị định vị GPS và hệ thống bẫy ảnh tự động nhằm tháo gỡ 100% bẫy thú cơ học trên toàn lâm phần giai đoạn 2011 - 2015. Chủ thể thực hiện là Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Tiên kết hợp cùng Tổ chức WWF.

Phục hồi sinh cảnh và điều tiết nguồn khoáng: Triển khai trồng bổ sung cây thức ăn bản địa trên 1.500 ha trảng tre nứa nghèo kiệt, bảo vệ nghiêm ngặt 6 điểm khoáng tự nhiên hiện có và lắp đặt định kỳ các tảng liếm khoáng nhân tạo từ quý 1 năm 2011 do Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế chủ trì.

Hợp tác quốc tế cứu hộ nguồn gen: Tổng cục Lâm nghiệp và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần thiết lập chương trình đàm phán khẩn cấp với các tổ chức quốc tế (IUCN, WWF) trong giai đoạn 2011 - 2013 để xây dựng phương án ghép đôi sinh sản bán tự nhiên hoặc trao đổi cá thể với Indonesia.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Ban Quản lý các Vườn Quốc gia và Rừng đặc dụng: Nắm vững quy trình phân vùng bảo tồn nghiêm ngặt, áp dụng các giải pháp giảm thiểu xung đột giữa cộng đồng dân cư vùng đệm và động vật hoang dã.

Nhà nghiên cứu và Giảng viên ngành Lâm nghiệp, Sinh thái học: Tiếp cận phương pháp luận khoa học về nhận dạng dấu vết móng chân thú lớn, kỹ thuật thu mẫu phân bằng chó nghiệp vụ và các chỉ số sinh thái thực địa giá trị.

Cơ quan Quản lý Nhà nước và Hoạch định Chính sách: Sử dụng căn cứ thực tiễn để ban hành các quyết định di dân tái định cư vùng lõi rừng đặc dụng, thực thi Nghị định 32/2006/NĐ-CP và phân bổ ngân sách bảo tồn loài nguy cấp.

Các Tổ chức Phi chính phủ và Bảo tồn Thiên nhiên (WWF, IUCN): Khai thác hệ thống dữ liệu sinh cảnh và bản đồ phân bố để xây dựng các dự án tài trợ tài chính, cung cấp trang thiết bị giám sát đa dạng sinh học tại khu vực Đông Dương.

Câu hỏi thường gặp

Quần thể Tê giác một sừng Java tại Cát Lộc được xác định chính xác có bao nhiêu cá thể? Phân tích 176 mẫu đo dấu chân và chiều rộng móng giữa chia thành 2 dải kích thước (100 đến 105 mm và 86 đến 95 mm) khẳng định chắc chắn có ít nhất 2 cá thể tê giác trưởng thành phân bố tại Bàu Chim và Đắc Lớ, cùng 1 cá thể nghi vấn tại Hang Dơi. Toàn bộ hình ảnh ghi nhận đều là cá thể cái.

Tại sao diện tích khu vực Cát Lộc rộng 27.530 ha nhưng tê giác chỉ hoạt động trong khoảng 5.000 ha? Vùng hoạt động của tê giác bị thu hẹp do các thôn bản vùng lõi như Thôn 3, Thôn 4 và buôn K'Lo K'ích chia cắt đường di chuyển lên phía Bắc. Đồng thời địa hình dốc quanh suối Đắc Lớ và diện tích rừng tre nứa chiếm tới 40,5% không cung cấp đủ thức ăn ưa thích.

Hiện trạng và cấu trúc đàn Bò tót tại Vườn Quốc gia Cát Tiên ra sao? Vườn Quốc gia Cát Tiên hiện có khoảng 19 đến 22 đàn bò tót với tổng số ước tính 120 cá thể. Cơ cấu đàn tương đối ổn định, có đầy đủ cá thể đực, cái và con non, nhưng đang chịu áp lực lớn từ nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh từ gia súc chăn thả tự do.

Phương pháp nào tối ưu nhất để điều tra thú móng guốc lớn trong điều kiện rừng rậm nhiệt đới? Kết hợp phân tích hình thái móng giữa dấu chân ngoài thực địa với công nghệ sinh học phân tử DNA từ mẫu phân là giải pháp tối ưu. Đề tài đã sử dụng 2 chó nghiệp vụ thu thập 22 mẫu phân tươi gửi phân tích di truyền nhằm xác định chính xác cá thể.

Vai trò của các điểm khoáng tự nhiên đối với sự sinh tồn của tê giác là gì? Sáu điểm khoáng tự nhiên tại Cát Lộc cung cấp nguồn muối khoáng vi lượng thiết yếu mà thức ăn thực vật không đáp ứng đủ. Đây cũng là nơi tê giác ngâm đầm bùn để hạ nhiệt cơ thể, chống ký sinh trùng và tìm kiếm bạn giao phối.

Kết luận

  • Xác định chắc chắn sự tồn tại của ít nhất 2 cá thể Tê giác Java cái trưởng thành tại Cát Lộc qua 176 mẫu đo dấu chân và phân tích móng giữa.
  • Đánh giá hiện trạng quần thể Bò tót quy mô 19 đến 22 đàn với khoảng 120 cá thể đang sinh trưởng ổn định nhưng tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh.
  • Định vị chính xác không gian sống sống còn 4.500 đến 5.000 ha của tê giác và xác lập bản đồ 6 điểm khoáng tự nhiên trọng yếu.
  • Chỉ rõ áp lực suy thoái sinh cảnh do 3.000 ha đất canh tác nông nghiệp và sự hiện diện của hơn 300 hộ dân cư trú sâu trong vùng lõi.
  • Đề xuất khung hành động bảo tồn toàn diện kết hợp di dời dân cư trước năm 2012, tuần tra bảo vệ 24/7 và hợp tác quốc tế giai đoạn 2011 - 2015.

Luận văn là công trình khoa học có giá trị thực tiễn to lớn đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam. Các cơ quan quản lý và tổ chức quốc tế cần nhanh chóng triển khai các khuyến nghị, ưu tiên nguồn lực bảo vệ nghiêm ngặt sinh cảnh Cát Lộc ngay trong giai đoạn 2011 - 2015 nhằm ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng của các loài thú quý hiếm.