Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các công trình công bố có liên quan ở Việt Nam Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phức tạp tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh ở cả vùng đồng bằng, trung du và vùng núi nên phù hợp cho sự phát triển của động vật nói chung, ếch nhái và bò sát nói riêng [57]. Theo Nguyễn Văn Sáng và cs. (2009), các nghiên cứu về ếch nhái và bò sát ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn cụ thể như sau: Trước năm 1954: Tuệ Tĩnh (1623–1713) đã ghi nhận 16 vị thuốc có nguồn gốc từ ếch nhái và bò sát.
Sau đó những nghiên cứu về ếch nhái và bò sát hoàn toàn do người nước ngoài thực hiện. Các kết quả nghiên cứu được xuất bản trên nhiều ấn phẩm khác nhau cả trong nước và ngoài nước cho một khu vực hay chung cho cả vùng Đông dương. Nửa đầu thế kỷ XX, ba cuốn chuyên khảo của Bourret gồm Les Serpents de l’Indochine xuất bản năm 1936, Les Tortues de l’Indochine xuất bản năm 1941 và Les Batraciens de l’Indochine xuất bản năm 1942 được coi là tài liệu đầy đủ nhất ở thời điểm đó về thành phần loài ếch nhái và bò sát của vùng Đông dương (Việt Nam, Lào và Campuchia). Tác giả này đã ghi nhận 177 loài và phân loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa và 171 loài và phân loài ếch nhái ở vùng Đông dương.
Trong giai đoạn từ 1900 đến 1954, đã có 75 loài mới được mô tả từ bộ mẫu chuẩn thu ở Việt Nam trong đó nổi bật nhất là hàng loạt công bố của Smith (giai đoạn 1920-1940) và của Bourret (giai đoạn 1930-1940) [8]. Thời kỳ 1954–1974: Tài liệu tổng kết về các kết quả khảo sát ở miền Bắc của Trần Kiên và cs. Thời kỳ 1975–1986: Đào Văn Tiến đã thống kê ở Việt Nam có 87 loài ếch nhái, 77 loài Thằn lằn, 165 loài rắn, 32 loài rùa và 2 loài cá sấu [13]. 4 Nghiên cứu về ếch nhái được đẩy mạnh đặc biệt từ những năm 1990 trở lại đây.
Việc thành lập các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên đã đòi hỏi phải tiến hành khảo sát và đánh giá tổng thể về hiện trạng nguồn tài nguyên sinh vật nhằm tạo lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch và quản lý. Thời kỳ 1987–2009: Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã ghi nhận ở nước ta có 340 loài gồm 82 loài ếch nhái và 258 loài bò sát [5], đến năm 2005 tổng số loài đã lên tới 458 loài gồm 162 loài ếch nhái và 296 loài bò sát [6], và cuốn danh lục mới xuất bản năm 2009 đã ghi nhận tổng số loài là 545 loài gồm 177 loài ếch nhái và 368 loài bò sát [36]. Theo thống kê chưa chính thức, số lượng loài bò sát và ếch nhái hiện nay khoảng 630 loài gồm 200 loài ếch nhái và khoảng 430 loài bò sát [25,61]. Trong thời kỳ 1975–1986 phát hiện được 6 loài mới cho khoa học, trong đó chỉ có 3 loài có tác giả là người Việt Nam thì từ năm 1987–2009, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 108 loài, trong đó có 65 loài có nhà khoa học Việt Nam tham gia và có tới 11 loài có tác giả đứng đầu là người Việt Nam [8].
Trong 5 năm trở lại đây 2009-2013, có 14 loài ếch nhái mới được công bố với mẫu chuẩn thu ở Việt Nam như: Leptolalax applebyi Rowley & Cao, 2009; Leptolalax croceus Rowley, Hoang, Le, Dau & Cao, 2010; Odorrana geminata Bain, Stuart, Nguyen, Che & Rao, 2009; Theloderma lateriticum Bain, Nguyen & Doan, 2009; Rhacophorus vampyrus Rowley, Le, Tran, Stuart & Hoang, 2010; Gracixalus quangi Rowley, Dau, Nguyen, Cao & Nguyen 2011; Theloderma nebulosum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011; Theloderma palliatum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011; Gracixalus waza Nguyen, Le, Pham, Nguyen, Bonkowski & Ziegler, 2012; Tylototriton ziegleri Nishikawa, Matsui & Nguyen 2013; và 2 loài mới ghi nhận cho Việt Nam là Leptobrachium promustache và Tylototriton notialis (Bain et al. 2009, Nishikawa et al. Trong giai đoạn 2009-2014 có 47 loài bò sát mới được mô tả như: Cnemaspis psychedelica Grismer, Ngo & Grismer, 2010; Calamaria concolor Orlov, Nguyen, Nguyen, Ananjeva & Ho, 2010; Tropidophorus boehmei Nguyen, Nguyen, Schmitz, & Ziegler, 2010; Scincella darevskii Nguyen, Ananjeva, Orlov, Rybaltovsky 5 & Bohme, 2010; Scincella apraefronTaLis Nguyen, Nguyen, Bohme & Ziegler, 2010; Scincella apraefronTaLis Nguyen, Nguyen, Böhme & Ziegler 2010; Acanthosaura brachypoda Ananjeva, Orlov, Nguyen & Ryabov, 2011; Cyrtodactylus huongsonensis Luu, Nguyen, Do & Ziegler, 2011 [61]. Riêng năm 2013 có 15 loài bò sát và ếch nhái mới cho khoa học được phát hiện trong đó có 5 loài ếch nhái gồm: Kaloula indochinensis Chan, Blackburn, Murphy, Stuart, Emmett, Ho, and Brown, Leptolalax botsfordi Rowley, Dau, and Nguyen, Oreolalax sterlingae Nguyen, Phung, Le, Ziegler, and Böhme, Rhacophorus helenae Rowley Tran, Hoang, and Le, Tylototriton ziegleri Nishikawa, Matsui, and Nguyen, và 10 loài bò sát Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen; Cyrtodactylus kingsadai Ziegler, Phung, Le & Nguyen; Sphenomorphus sheai Nguyen, Nguyen, Van Devender, Bonkowski & Ziegler; Cyrtodactylus phuocbinhensis Nguyen, Le, Tran, Orlov, Lathrop, Macculloch, Le, Jin, Nguyen, Nguyen, Hoang, Che, Murphy & Zhang; Calotes bachae Hartmann, Geissler, Poyarkov, Ihlow, Galoyan, Rödder & Böhme; Cyrtodactylus dati Ngo; Gekko adleri Nguyen, Wang, Yang, Lehmann, Le, Ziegler & Bonkowski; Hemiphyllodactylus zugi Nguyen, Lehmann, Le, Duong, Bonkowski & Ziegler; và Oligodon cattienensis Vassilieva, Geissler, Galoyan, Poyarkov Jr., Van Devender & Böhme [7].
Nhận xét chung: Những công trình nghiên cứu trên đã bổ sung thêm nhiều loài bò sát, ếch nhái cho Việt Nam. Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ. Những kết quả nghiên cứu trên cũng chỉ ra các mối đe dọa chính đối với khu hệ ếch nhái Việt Nam bao gồm: khai thác quá mức cho thương mại và mất sinh cảnh do chuyển đổi đất rừng sang mục đích sử dụng khác. Các nghiên cứu ở tỉnh Bắc Kạn và KBTTN Kim Hỷ Tỉnh Bắc Kạn nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam và có 3 khu bảo tồn là VQG Ba Bể, KBTTN Kim Hỷ và Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
Đã có một số nghiên cứu về đa dạng sinh học ở tỉnh Bắc Kạn nhưng mới chỉ tập trung vào VQG Ba Bể và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Theo Nguyễn Văn Sáng và 6 cs. KBTTN Kim Hỷ được thành lập vào năm 2003, có diện tích là 14.772 ha và diện tích vùng đệm là 20. Với địa hình núi đá vôi điển hình, tại khu vực đã có một số nghiên cứu ban đầu về tài nguyên sinh vật, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về bò sát và ếch nhái.
Cơ sở dữ liệu đầu tiên về tài nguyên sinh vật được trình bày trong “Luận chứng kinh tế kỹ thuật KBTTN Kim Hỷ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” do Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn thực hiện năm 2003 trong đó ghi nhận 51 loài bò sát và 32 loài ếch nhái [13]. Gần đây nhất trong báo cáo “Quy hoạch và phát triển rừng bền vững tại KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn 2012– 2020” của Đỗ Quang Huy và cs. đã ghi nhận lại trong khu vực có 64 loài bò sát và 39 loài ếch nhái [2]. Như vây, ngoài các báo cáo và công bố trên thì chưa có đợt điều tra chính thức, nghiên cứu cụ thể nào về các loài ếch nhái và bò sát ở Khu BTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn.
Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ hơn về khu hệ ếch nhái, bò sát ở khu vực là hết sức cần thiết. Căn cứ vào điều kiện địa hình khu vực, tổng kết các phương pháp nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, trong nghiên cứu này tôi sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến. 7 Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: Đánh giá sự đa dạng và giá trị bảo tồn của khu hệ bò sát và ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ.
- Mục tiêu cụ thể: + Đánh giá sự đa dạng về thành phần loài ếch nhái và bò sát tại KBTTN Kim Hỷ. + Đánh giá đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái và bò sát tại KBTTN Kim Hỷ theo điểm nghiên cứu và dạng sinh cảnh. + Đánh giá giá trị bảo tồn của các loài ếch nhái và bò sát ở KBTTN Kim Hỷ dựa vào số lượng loài quý hiếm (bị đe dọa) và đặc hữu. + Xác định các nhân tố đe dọa đến các loài bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ + Đề xuất giải pháp bảo tồn bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Các loài bò sát và ếch nhái. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chúng tôi tiến hành khảo sát ở 3 điểm (6 tuyến) thuộc địa bàn KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn. Nội dung nghiên cứu a) Xác định sự đa dạng về thành phần loài bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ. - Lập danh sách loài, xác định các nhóm loài chiếm ưu thế trong khu vực.
- Ghi nhận các loài mới cho KBTTN Kim Hỷ và cho tỉnh Bắc Kạn. - So sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái của khu vực nghiên cứu với một số khu vực khác có sinh cảnh tương tự. b) Ghi nhận sự phân bố của các loài theo các dạng sinh cảnh sống trong khu vực. - Theo sinh cảnh - Theo phân bố địa lý 8 c) Nghiên cứu, xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài bò sát, ếch nhái ở khu vực nghiên cứu từ đó đề xuất biện pháp bảo tồn loài.
- Mất sinh cảnh sống - Khai thác quá mức Và đề xuất các biện pháp bảo tồn - Khu vực cần ưu tiên bảo tồn - Hoạt động ưu tiên 2. Phương pháp nghiên cứu 2. Công tác chuẩn bị - Thu thập và tham khảo các tài liệu có liên quan đến công tác điều tra, báo cáo đã công bố về bò sát và ếch nhái của các KBTTN, VQG ở các vùng lân cận như VQG Ba Bể, KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc. Khoá định loại và các tài liệu tham khảo có liên quan đến bò sát và ếch nhái.
- Chuẩn bị các bản đồ hiện trạng, quy hoạch khu vực nghiên cứu. - Tài liệu nhận dạng bò sát và ếch nhái. - Các dụng cụ cần thiết trang bị phục vụ cho công tác điều tra như: gậy bắt rắn, cồn, lọ bảo quản mẫu, dụng cụ giải phẫu, máy ảnh, đèn pin, êtiket, máy định vị GPS.