CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN 1. Khái quát về quyền tác giả 1. Khái niệm quyền tác giả Quyền tác giả (QTG) hình thành gắn với sự ra đời của công nghệ in ấn. Giữa thế kỷ 15, Johannes Gutenberg chế tạo ra máy in và chữ in bằng kim loại, tạo ra cuộc cách mạng công nghiệp mới cho toàn châu Âu lúc bấy giờ.
Tại Anh quốc, William Caxton là một trong những người đi tiên phong trong việc sử dụng công nghệ in ấn, từ đó việc sao chép lại một tác phẩm trở nên dễ dàng hơn. Các nhà in thời đó bắt tay vào kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, họ trả tiền cho tác giả của những tác phẩm được in ấn và sao chép với số lượng lớn. Tuy nhiên, do sự cạnh tranh trong ngành, một số nhà in khác cũng sao chép lại những tác phẩm đó, có thể sửa đổi so với bản gốc, chất lượng in ấn không đảm bảo, họ bán với giá rẻ hơn mà không trả tiền cho tác giả. Những nhà in trả tiền cho tác giả nhận thấy quyền lợi của mình bị ảnh hưởng.
Họ đã xin đặc quyền từ cơ quan quyền lực thời bấy giờ với những tác phẩm mà họ in “Họ được quyền sản xuất và phân phối các bản sao tác phẩm văn học trong một thời hạn nhất định cùng những hình phạt đối với kẻ vi phạm bản quyền bằng cách phạt tiền, bắt giữ, tịch thu các văn bản,. Nhìn chung quy định này mới chỉ bảo vệ được quyền lợi của nhà xuất bản, chứ chưa bảo vệ cho quyền lợi của tác giả. Năm 1710 Đạo luật của Nữ hoàng Anne “Statue of Anne” [54] (tên gọi đầy đủ là “Đạo luật bảo hộ quyền lợi trong một thời gian nhất định cho tác giả có sách được in và đóng thành cuốn để bán nhằm khuyến khích sự sáng tạo”), quyền sao chép lần đầu tiên được pháp luật công nhận, có thể coi đây là đạo luật đầu tiên trên thế giới quy định về QTG, tạo ra sự ảnh hưởng đối với quốc gia khác. Sau đạo luật ban hành ở Anh, nhiều quốc gia khác cũng lần lượt xây dựng quy định về QTG.
Năm 1770 Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn Đạo luật Liên bang đầu tiên về QTG. Ở Pháp, hai nghị định về QTG được ban hành năm 1791 và 1793. Đến giữa thế kỷ 19, Úc và Tây Ban Nha, một số quốc gia ở châu Mỹ La tinh như Chi Lê, Pêru, Argentina, Mexico… cũng xây dựng luật bản quyền riêng của họ. Tại châu Á, Nhật Bản ban hành luật đầu tiên liên quan đến QTG là Luật Xuất bản năm 1869.
Cho đến năm 1887, Nhật Bản chính thức ban hành Luật QTG. Một số nước khác như Indonexia ban hành Luật QTG năm 1982, Singapore ban hành đạo luật bản quyền hiện đại năm 1987, Thái Lan năm 1994… [34, tr. Vấn đề bảo hộ QTG trên phạm vi toàn cầu được quy định bởi Công ước Berne về QTG đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, được thông qua 9/9/1886 tại Berne - Thuỵ 12 Sỹ, đây là Công ước quan trọng và có lịch sử lâu đời nhất. Công ước này đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, từ mười thành viên ban đầu đến nay số lượng thành viên đã tăng lên đáng kể (hơn 170 quốc gia) [17].
Công ước Berne tạo nền tảng cho nhiều Điều ước quốc tế khác ra đời như Công ước Rome 1961 về bảo vệ quyền của nghệ sĩ biểu diễn, nhà sản xuất băng ghi âm và tổ chức phát sóng; Công ước Geneve 1971 về bảo vệ quyền của nhà sản xuất băng ghi âm chống lại sự sao chép bất hợp pháp; Công ước Brussele 1974 về phân phối tín hiệu mang chương trình được truyền bằng vệ tinh; Hiệp định TRIPS 1994 về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT;… Những quy định về QTG trong pháp luật Việt Nam ra đời muộn hơn so với quốc gia khác. Nghị định số 142/HĐBT năm 1986 được coi là văn bản đầu tiên quy định riêng biệt về QTG. Mặc dù đã có những quy định cơ bản nhưng văn bản dưới luật này chưa thể đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong giai đoạn đổi mới. Khi đời sống vật chất, tinh thần của con người được nâng cao, hoạt động sáng tạo ngày càng nhiều, để pháp luật phù hợp hơn với thực tiễn, năm 1994 Pháp lệnh bảo hộ QTG ra đời, sửa đổi, bổ sung những quy định đã lạc hậu.
Cho đến năm 1995 BLDS ra đời, tiếp thu những điểm tiến bộ của văn bản pháp lý trước đó, chế định quyền SHTT trong đó có QTG được ghi nhận trong văn bản pháp lý này tại chương 6,7 và được hướng dẫn thi hành bởi Nghị định 76/NĐ – CP ngày 29/11/1996. Năm 2005 BLDS mới ra đời cùng với Luật SHTT đánh dấu sự phát triển của hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam, đặc biệt là QTG. Trên phương diện hội nhập quốc tế Việt Nam đã tham gia nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương như: Hiệp định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ (có hiệu lực 10/12/2001); Hiệp định về bảo hộ quyền SHTT giữa Việt Nam và Liên Bang Thuỵ Sỹ (có hiệu lực từ năm 2000); Công ước Berne (gia nhập ngày 26/10/2004); Công ước Geneve 1971 (Việt Nam gia nhập năm 2005); Công ước Brussele 1974 (Việt Nam gia nhập năm 2006); Công ước Rome (Việt Nam gia nhập 2007); Hiệp định TRIPS 1994 (Việt Nam gia nhập năm 2007) [42, tr. QTG tại những quốc gia khác được ban hành thành đạo luật riêng, tuy nhiên tại Việt Nam QTG được quy định chung trong Luật SHTT.
Mặc dù có sự khác nhau, nhưng suy cho cùng mục đích các quốc gia hướng tới là bảo vệ sự sáng tạo, một tài sản không thể thiếu cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm QTG được tiếp cận dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: - Tại một số nước châu Âu, QTG (Author’s Right) được tiếp cận theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa hay còn gọi là Dân luật (Civil Law hoặc Continental Law). Tại Pháp, QTG được dịch trực tiếp từ thuật ngữ “droit d'auteur” nhằm nhấn mạnh quyền của tác giả đối với sáng tạo của mình, hay nói cách khác khái niệm này đề cao 13 quyền nhân thân của tác giả đối với tác phẩm. Đối với các quốc gia theo hệ thống thông luật (Common Law), thuật ngữ bản quyền/quyền sao chép (Copyright) được sử dụng nhằm nhấn mạnh việc bảo hộ quyền của chủ sở hữu tránh khỏi việc bị sao chép.
Đây cũng chính là nội dung cơ bản, quan trọng nhất trong việc khai thác lợi ích kinh tế đối với tác phẩm. Như vậy, thuật ngữ “Copyright” có đôi nét khác biệt khi tập trung bảo vệ quyền lợi kinh tế của chủ sở hữu QTG (Owner of the copyright) nhằm chống lại hành vi sao chép tràn lan tác phẩm [27, tr. - Trong văn bản pháp luật nước ngoài, hầu hết các quốc gia không đưa ra định nghĩa chính thức về QTG. Một số quốc gia đề cập theo những cách khác nhau bằng cách liệt kê nội dung; dẫn chiếu đến mục khác trong văn bản luật hoặc mang tính chất tổng hợp từ điều luật trước đó.
Một vài ví dụ điển hình như: Luật QTG tác phẩm văn học và nghệ thuật của Thụy Điển 1960 (sửa đổi năm 2000) QTG được định nghĩa trong nội dung của điều luật, quy định tại Điều 2: “Với những giới hạn được nêu dưới đây, QTG bao gồm quyền độc quyền kiểm soát việc sao chép và cung cấp bản gốc hoặc bản sửa đổi của tác phẩm tới công chúng, việc dịch và cải biên chuyển thể tác phẩm sang loại hình văn học hoặc nghệ thuật khác, hoặc bằng các phương tiện kỹ thuật khác, cũng được coi là một bản sao khi những bản ghi tác phẩm được làm bằng các vật liệu có thể sao chép được. Tác phẩm được cung cấp tới công chúng bằng hình thức biểu diễn công cộng, bán, cho thuê, cho mượn bản sao tác phẩm hoặc phân phối dưới các hình thức khác hoặc trưng bày công cộng. Buổi biểu diễn được thực hiện trong khuôn khổ của các hoạt động thương mại phục vụ cho một nhóm người tương đối rộng có quan hệ thân thiết cũng được coi là biểu diễn công cộng” [49]; hay như Luật bản quyền Canada 1985 (Copyright Act), bản quyền được định nghĩa bằng cách dẫn chiếu các điều trong văn bản luật [58] mà ở đó nội dung của luật cũng đồng thời giải thích khái niệm về bản quyền: Bản quyền có nghĩa là các quyền được mô tả trong: (a) phần 3, trong trường hợp của một tác phẩm; (b) phần 15 và 26, trong trường hợp biểu diễn của nghệ sỹ; (c) phần 18, trong trường hợp ghi âm, hoặc (d) phần 21, trong trường hợp tín hiệu truyền thông1. 1 Nguyên gốc tiếng anh: Copyright means the rights described in: (a) section 3, in the case of a work; (b) sections 15 and 26, in the case of a performer's performance; (c) section 18, in the case of a sound recording, or (d) section 21, in the case of a communication signal; 14 - Tại Việt Nam QTG theo Điều 2 Thông tư 04/VH-TT hướng dẫn, giải thích Nghị định số 142-HĐBT ngày 14/11/1986 “QTG là một quyền lợi của cá nhân trong chế độ xã hội chủ nghĩa, do đó mọi quyền lợi chính đáng của tác giả được Nhà nước bảo hộ…”.
Khái niệm này nêu ra một cách khái quát nhất về QTG, tuy nhiên chưa thật sự đầy đủ, chẳng hạn như QTG chỉ là một quyền lợi của cá nhân, trong khi đó chủ thể QTG còn có thể là tổ chức. - Điều 2 Pháp lệnh bảo hộ QTG 1994 “QTG là các quyền về tinh thần và vật chất của tác giả”. Khái niệm này thể hiện hai nội dung cơ bản của QTG gồm quyền tinh thần và quyền vật chất. - Thuật ngữ QTG còn được ghi nhận trong một số văn bản pháp luật sau: Điều 750 BLDS 1995 “Quyền của tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo”; khoản 1 Điều 758 BLDS 2005 “QTG bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm”.
Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009 “QTG là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. So với những quy định trước đây, khái niệm QTG trong Luật SHTT đã hoàn thiện hơn. - Theo từ điển Oxford, QTG được định nghĩa2 “Nếu một cá nhân hoặc một tổ chức giữ bản quyền đối với một bài viết, bản nhạc, v. thì họ là những người duy nhất có quyền hợp pháp để xuất bản, phát sóng, biểu diễn nó, v.