Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và gắn kết thương mại toàn cầu, việc bảo hộ các tài sản trí tuệ phi vật chất trở thành nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quá trình Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA đòi hỏi hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT), đặc biệt là quyền sở hữu công nghiệp (SHCN), phải liên tục được hoàn thiện để tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh lành mạnh.
Tên thương mại (TTM) giữ vị trí then chốt trong hoạt động kinh doanh, đóng vai trò nhận diện doanh nghiệp, xây dựng uy tín và tạo lập giá trị thương trường. Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật bảo hộ quyền SHCN đối với TTM trong thực tiễn đang bộc lộ những vướng mắc và nguy cơ bị xâm phạm quyền. Khóa luận tốt nghiệp "Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại" do tác giả Phạm Đỗ Phương Thảo (Chuyên ngành Luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của TS. Vương Thanh Thúy, năm 2024) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách này.
Mục tiêu nghiên cứu tổng thể của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận về TTM và bảo hộ quyền SHCN đối với TTM theo quy định pháp luật Việt Nam cùng các chuẩn mực quốc tế, phân tích thực trạng quy định và thực tiễn thực thi, từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tác giả xác định 02 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích tính cấp thiết của việc bảo hộ quyền SHCN đối với TTM trong nền kinh tế thị trường.
- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp liên quan đến quy định pháp luật về TTM phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội hiện tại của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận về quyền SHTT, quyền SHCN, TTM; các quy định pháp luật thực định của Việt Nam và các điều ước quốc tế về căn cứ xác lập, sử dụng, định đoạt và bảo vệ quyền SHCN đối với TTM; thực trạng áp dụng pháp luật và các giải pháp hoàn thiện.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Không gian: Quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn khai thác, bảo vệ quyền SHCN đối với TTM tại Việt Nam.
- Thời gian: Trọng tâm nghiên cứu các quy định pháp luật thực định; dữ liệu thực tiễn và số liệu tập trung phân tích trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2023.
- Nội dung: Các quy phạm pháp luật kể từ khi Luật SHTT năm 2005 được ban hành và sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009, 2019, 2022; hệ thống Luật Doanh nghiệp (2005, 2014, 2020); Luật Thương mại năm 2005 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; các điều ước quốc tế tiêu biểu như Công ước Paris năm 1883 (sửa đổi năm 1979), Hiệp định TRIPS năm 1994 và các văn kiện quốc tế liên quan.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của công trình được xây dựng trên hệ thống các khái niệm pháp lý chuyên ngành và chuẩn mực quốc tế:
- Khái niệm quyền SHCN theo khoản 4 Điều 4 Luật SHTT và các điều ước quốc tế (Công ước Paris 1883, Hiệp định TRIPS 1994). Tác giả phân chia đối tượng SHCN thành hai nhóm chức năng: nhóm sản phẩm mang tính sáng tạo kỹ thuật (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí) và nhóm sản phẩm sáng tạo gắn với thương mại (nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh).
- Khái niệm TTM được tiếp cận đa chiều: theo Điều 2 Công ước thành lập WIPO, Điều 8 Công ước Paris 1883, Điều 2 Hiệp định TRIPS; và khoản 21 Điều 4 Luật SHTT (tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh).
- Hệ thống văn bản pháp lý quy chiếu: Bộ luật Dân sự (1995, 2015); Luật Thương mại (1997, 2005); Luật Doanh nghiệp (1999, 2005, 2014, 2020); Luật SHTT (2005, 2009, 2019, 2022); các Nghị định số 63/CP (1996), Nghị định 54/2000/NĐ-CP, Nghị định 105/2006/NĐ-CP, Nghị định 119/2010/NĐ-CP và Nghị định 65/2023/NĐ-CP.
Phương pháp nghiên cứu thực hiện bao gồm:
- Phương pháp luận triết học: Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, lập trường Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nhìn nhận các quan hệ tài sản trí tuệ trong mối tương quan kinh tế - xã hội.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp phân tích, tổng hợp quy phạm; phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực của Công ước Paris, TRIPS và luật pháp một số nước như Anh, Tây Ban Nha, Liên bang Nga, Thụy Điển, Sri Lanka); phương pháp thống kê, chứng minh và quy nạp.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát thực tế thương trường, thu thập và nghiên cứu tài liệu pháp lý, phân tích các vụ việc giải quyết tranh chấp thực tế (tiêu biểu như Bản án số 369/2012/KDTM-ST của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh).
Nguồn dữ liệu của khóa luận dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và quốc tế; các báo cáo và số liệu giai đoạn 2018 - 2023; kế thừa kết quả từ các công trình khoa học tiêu biểu như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Đại học Luật Hà Nội do PGS. Vũ Thị Hải Yến chủ nhiệm (2018); sách chuyên khảo của PGS. Phùng Trung Tập (2021), PGS.TS. Lê Thị Nam Giang (2020); luận văn của Đỗ Việt Hà (2018), Bùi Thị Huyền (2010); bài báo khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh (2002).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện về TTM và cơ chế bảo hộ quyền SHCN đối với TTM:
- Quan điểm quốc tế và quy định tại Việt Nam: Công ước Paris 1883 áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia (Điều 2), mở rộng thuật ngữ SHCN sang cả nông nghiệp và công nghiệp khai thác (Điều 1). Đáng chú ý, Điều 8 Công ước Paris quy định TTM phải được bảo hộ ở tất cả các nước thành viên mà không bắt buộc phải nộp đơn hay đăng ký, bất kể TTM đó có phải là một phần của nhãn hiệu hay không. Hiệp định TRIPS 1994 tích hợp Điều 8 này thông qua Điều 2. Trái với quy định đăng ký bắt buộc tại một số nước như Liên bang Nga hoặc khu vực Trung Mỹ, Việt Nam tuân thủ nguyên tắc xác lập quyền tự động thông qua việc sử dụng hợp pháp trong thực tiễn.
- Đặc điểm pháp lý của TTM: Tác giả chỉ ra 04 đặc trưng cốt lõi: (1) Là danh xưng của chủ thể kinh doanh; (2) Là một dạng tài sản trí tuệ vô hình có giá trị kinh tế lớn; (3) Có mục đích phân biệt các chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh; (4) Được bảo hộ tự động trên cơ sở sử dụng mà không cần cấp văn bằng bảo hộ tại Cục SHTT.
- Điều kiện bảo hộ TTM: Dựa trên Điều 76 và Điều 78 Luật SHTT, TTM được bảo hộ khi có khả năng phân biệt, chứa thành phần tên riêng (trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi), không trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với TTM của chủ thể khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh, và không trùng/tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày TTM được sử dụng. Điều 77 loại trừ bảo hộ TTM đối với tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc chủ thể phi kinh doanh.
- Nội dung và yêu cầu bảo hộ trong bối cảnh hiện đại: Quyền đối với TTM gồm quyền sử dụng và quyền định đoạt (việc chuyển nhượng phải đi kèm với toàn bộ cơ sở và hoạt động kinh doanh). Tác giả làm rõ 05 yêu cầu tất yếu của bảo hộ TTM: tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ người tiêu dùng khỏi nhầm lẫn, bảo đảm sự ổn định để thu hút đầu tư, hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu và kích thích hoạt động đổi mới sáng tạo.
Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
Chương 2 tập trung mổ xẻ cấu trúc pháp lý thực định điều chỉnh TTM qua các nội dung:
- Sự phát triển của pháp luật Việt Nam: Trải qua 03 giai đoạn lịch sử:
- Giai đoạn trước năm 2000: TTM chỉ được bảo hộ gián tiếp qua Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997, Luật Doanh nghiệp 1999 và Nghị định 63/CP năm 1996; hoàn toàn thiếu vắng nguyên tắc xác lập quyền qua sử dụng và chưa bảo hộ TTM chưa đăng ký.
- Giai đoạn 2000 - 2005: Sự ra đời của Nghị định 54/2000/NĐ-CP đánh dấu văn bản pháp luật đầu tiên quy định tương đối đầy đủ TTM với tư cách là đối tượng SHCN độc lập, dù các quy phạm về xử lý xâm phạm còn mang tính khái quát.
- Giai đoạn từ năm 2005 đến nay: Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022) cùng Nghị định 65/2023/NĐ-CP đã hoàn thiện hành lang pháp lý, thừa nhận nguyên tắc "tự do lựa chọn" và nguyên tắc "sự thật" (bảo hộ theo phạm vi thực tế sử dụng hợp pháp).
- Căn cứ xác lập quyền và chủ thể quyền: Theo điểm b khoản 3 Điều 6 Luật SHTT và khoản 3 Điều 10 Nghị định 65/2023/NĐ-CP, quyền SHCN đối với TTM xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp trong thực tiễn tương ứng với khu vực và lĩnh vực kinh doanh mà không cần đăng ký. Hành vi sử dụng được xác định theo khoản 6 Điều 124 Luật SHTT (dùng để xưng danh trong giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, bao bì, quảng cáo). Chủ thể có quyền bao gồm người trực tiếp sử dụng hợp pháp (phải xuất trình chứng cứ theo điểm b khoản 5 Điều 91 Nghị định 65/2023/NĐ-CP) hoặc chủ thể nhận chuyển giao toàn bộ cơ sở kinh doanh theo khoản 3 Điều 139.
- Quy định về khai thác và giới hạn quyền: Chủ sở hữu có độc quyền sử dụng và ngăn cấm người khác sử dụng (khoản 1 Điều 123). Tuy nhiên, quyền định đoạt bị ràng buộc: TTM không được phép chuyển quyền sử dụng (khoản 1 Điều 142) và chỉ được chuyển nhượng cùng với toàn bộ cơ sở và hoạt động kinh doanh (khoản 3 Điều 139). Quyền đối với TTM bị giới hạn về không gian (nơi có bạn hàng, danh tiếng), thời gian (gắn liền sự tồn tại của doanh nghiệp), giới hạn bởi quyền của người khác khi họ sử dụng trung thực tên người, chỉ dẫn địa lý (khoản 2 Điều 125, ví dụ vụ việc sử dụng cụm từ "Tiền Hải" cho nguồn nước khoáng) và giới hạn bởi lợi ích công cộng, quốc phòng an ninh (Điều 7).
- Bảo vệ quyền và xử lý hành vi xâm phạm: Căn cứ khoản 2 Điều 129 Luật SHTT, Điều 13 Nghị định 105/2006/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 119/2010/NĐ-CP) và Điều 72 Nghị định 65/2023/NĐ-CP, hành vi xâm phạm quyền TTM phải thỏa mãn đồng thời 02 yếu tố: (1) Sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn về từ ngữ, phát âm, phiên âm; (2) Trùng hoặc tương tự về sản phẩm, dịch vụ nhằm gây nhầm lẫn về chủ thể, cơ sở kinh doanh. Tác giả trích dẫn Bản án số 369/2012/KDTM-ST của TAND TP. Hồ Chí Minh khẳng định việc xử lý đòi hỏi chứng minh đồng thời cả 2 thành tố trên. Các biện pháp bảo vệ bao gồm biện pháp tự bảo vệ (Điều 198), biện pháp dân sự (Điều 202) và biện pháp hành chính.
Chương 3: Đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
Nội dung Chương 3 tập trung nhận diện những rào cản từ thực tiễn và đưa ra định hướng xử lý:
- Đánh giá thực trạng thực thi: Tác giả chỉ rõ sự thiếu đồng bộ nghiêm trọng giữa pháp luật SHTT và pháp luật doanh nghiệp. Tên doanh nghiệp theo Điều 37 Luật Doanh nghiệp 2020 gồm "loại hình doanh nghiệp" và "tên riêng". Khi đăng ký kinh doanh tại Phòng Đăng ký kinh doanh, hệ thống quản lý đăng ký doanh nghiệp không có cơ chế đối soát tự động với cơ sở dữ liệu TTM đang được sử dụng hợp pháp trong thực tế. Điều này tạo kẽ hở cho các chủ thể xấu lợi dụng việc thay đổi nhỏ trong loại hình doanh nghiệp để đăng ký tên riêng trùng hoặc tương tự với TTM của doanh nghiệp khác, gây xung đột và xâm phạm quyền SHCN. Bên cạnh đó, gánh nặng chứng minh "sử dụng hợp pháp" và xác định ranh giới "khu vực kinh doanh" (nơi có bạn hàng hoặc danh tiếng) trong môi trường thương mại điện tử (TMĐT) và không gian mạng còn nhiều lúng túng.
- Nhóm giải pháp và kiến nghị:
- Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật: Xây dựng cơ chế liên thông, tích hợp dữ liệu giữa cơ quan Đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý SHTT; bổ sung các tiêu chí định lượng để xác định "khu vực kinh doanh", "danh tiếng" và phạm vi bảo hộ TTM trên nền tảng số.
- Nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm: Hoàn thiện quy trình phối hợp giải quyết xung đột giữa tên doanh nghiệp và TTM; hướng dẫn chi tiết nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng minh quyền sử dụng hợp pháp của chủ thể quyền.
- Tăng cường năng lực thực thi và tuyên truyền: Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, thẩm phán; nâng cao ý thức bảo hộ tài sản trí tuệ và phòng ngừa tranh chấp cho các doanh nghiệp trong nước.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã làm rõ bản chất pháp lý và sự khác biệt căn bản giữa các chỉ dẫn thương mại trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, được tổng hợp thông qua bảng đối chiếu sau:
| Tiêu chí |
Tên thương mại (TTM) |
Nhãn hiệu (NH) |
Tên doanh nghiệp (TDN) |
| Căn cứ pháp lý điều chỉnh |
Luật SHTT (khoản 21 Điều 4, Điều 76, 78) |
Luật SHTT (khoản 16 Điều 4, Điều 72) |
Luật Doanh nghiệp 2020 (Điều 37) |
| Chức năng cơ bản |
Phân biệt các chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực và khu vực |
Phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau |
Nhận diện pháp lý của tổ chức kinh tế được cấp phép |
| Căn cứ xác lập quyền |
Tự động phát sinh từ thực tiễn sử dụng hợp pháp, không qua cấp bằng |
Thông qua thủ tục nộp đơn và cấp văn bằng bảo hộ (trừ NH nổi tiếng) |
Thông qua thủ tục đăng ký kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền |
| Phạm vi bảo hộ không gian |
Giới hạn trong khu vực địa lý nơi có bạn hàng, khách hàng hoặc danh tiếng |
Có hiệu lực trên toàn lãnh thổ quốc gia |
Có hiệu lực và được bảo hộ tên trên toàn quốc |
| Chuyển quyền sử dụng (Li-xăng) |
Không được phép chuyển quyền sử dụng độc lập (khoản 1 Điều 142) |
Được phép cấp quyền sử dụng thông qua hợp đồng li-xăng |
Không áp dụng cơ chế li-xăng tài sản trí tuệ |
| Chuyển nhượng quyền sở hữu |
Chỉ được chuyển nhượng cùng toàn bộ cơ sở và hoạt động kinh doanh |
Được chuyển nhượng độc lập (trừ các trường hợp gây nhầm lẫn) |
Đi liền với giao dịch chuyển nhượng doanh nghiệp/tái cơ cấu |
Đóng góp cụ thể của công trình:
- Làm sáng tỏ mâu thuẫn giữa nguyên tắc "xác lập quyền qua thực tế sử dụng" của TTM theo Luật SHTT với nguyên tắc "xác lập quyền qua đăng ký hành chính" của Tên doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp.
- Cập nhật và phân tích có hệ thống các văn bản mới nhất tính đến thời điểm nghiên cứu (Luật SHTT sửa đổi năm 2022 và Nghị định 65/2023/NĐ-CP).
- Luận giải chặt chẽ căn cứ pháp lý và thực tiễn của quy định cấm li-xăng TTM độc lập nhằm chống lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc và chất lượng của cơ sở thương mại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình:
- Tác giả tự nhận định do kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên bài viết khó tránh khỏi những điểm chưa thực sự bao quát.
- Nguồn số liệu thực tiễn và các vụ việc giải quyết tranh chấp chủ yếu tập trung trong mốc thời gian 2018 - 2023; số lượng bản án phân tích chi tiết còn khiêm tốn (tiêu biểu là Bản án số 369/2012/KDTM-ST), chưa bao quát hết các vụ việc tranh chấp trên phạm vi cả nước.
Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất:
- Tiếp tục nghiên cứu sâu cơ chế xử lý triệt để xung đột giữa quyền SHCN đối với TTM và thủ tục thu hồi tên doanh nghiệp vi phạm tại cơ quan Đăng ký kinh doanh.
- Nghiên cứu tiêu chí xác lập và chứng minh phạm vi "khu vực kinh doanh" của TTM trong bối cảnh bùng nổ thương mại điện tử, các giao dịch kinh doanh số xuyên biên giới và tên miền Internet.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ đang học tập và nghiên cứu các chuyên đề về tài sản vô hình và quyền sở hữu công nghiệp.
- Luật sư, chuyên viên pháp lý doanh nghiệp đang xử lý thủ tục tra cứu, xác lập danh xưng kinh doanh và giải quyết tranh chấp xâm phạm chỉ dẫn thương mại.
- Cán bộ quản lý nhà nước tại Cục Sở hữu trí tuệ, Sở Khoa học và Công nghệ, và Phòng Đăng ký kinh doanh trong công tác phối hợp thẩm định và xử lý vi phạm.
Phần đáng tham khảo nhất của khóa luận là Mục 2.2 và 2.4 thuộc Chương 2, nơi tác giả phân tích chi tiết các điều kiện cấu thành hành vi xâm phạm quyền TTM theo Điều 129 Luật SHTT kết hợp các căn cứ so sánh cấu tạo từ ngữ, phiên âm và tính chất sản phẩm theo Nghị định 105/2006/NĐ-CP và Nghị định 65/2023/NĐ-CP.
Câu hỏi thường gặp
1. Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại tại Việt Nam được xác lập dựa trên căn cứ nào và có bắt buộc phải đăng ký không?
Theo điểm b khoản 3 Điều 6 Luật SHTT và khoản 3 Điều 10 Nghị định 65/2023/NĐ-CP, quyền SHCN đối với TTM được xác lập hoàn toàn dựa trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp pháp TTM đó tương ứng với khu vực và lĩnh vực kinh doanh, mà không cần thực hiện bất kỳ thủ tục nộp đơn hay đăng ký văn bằng bảo hộ nào tại Cục SHTT. Việc đăng ký tên doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp chỉ là điều kiện để xác định việc sử dụng là hợp pháp chứ không phải là căn cứ phát sinh quyền SHCN.
2. Tên thương mại có được cấp phép chuyển quyền sử dụng (li-xăng) như nhãn hiệu hay không?
Không. Theo khoản 1 Điều 142 Luật SHTT, quyền đối với TTM không thuộc đối tượng được chuyển quyền sử dụng (không được li-xăng độc lập). TTM gắn liền với toàn bộ cơ sở và hoạt động kinh doanh của chủ thể, nhằm phân biệt chủ thể kinh doanh cụ thể. Nếu cho phép li-xăng TTM riêng biệt sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chính chủ thể đang vận hành cơ sở thương mại đó.
3. Điều kiện bắt buộc để chuyển nhượng quyền sở hữu tên thương mại là gì?
Căn cứ khoản 3 Điều 139 Luật SHTT, quyền đối với TTM chỉ được phép chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới TTM đó. Mọi thỏa thuận chuyển nhượng TTM tách rời khỏi cơ sở và hoạt động kinh doanh đều không có hiệu lực pháp lý.
4. Dấu hiệu pháp lý nào cấu thành hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại?
Theo khoản 2 Điều 129 Luật SHTT và hướng dẫn tại Điều 13 Nghị định 105/2006/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 119/2010/NĐ-CP), hành vi xâm phạm phải thỏa mãn đồng thời 02 yếu tố: (1) Sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với TTM được bảo hộ (giống nhau về cấu tạo từ ngữ, phát âm, phiên âm); (2) Được sử dụng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự về bản chất, chức năng, kênh tiêu thụ nhằm gây ra sự nhầm lẫn cho người tiêu dùng về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh hoặc hoạt động kinh doanh.
5. Trong trường hợp nào việc sử dụng dấu hiệu trùng với tên thương mại của người khác không bị coi là xâm phạm quyền?
Theo khoản 2 Điều 125 Luật SHTT, chủ sở hữu TTM không có quyền cấm người khác sử dụng nếu việc sử dụng đó là trung thực nhằm chỉ tên người, hoặc là dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công dụng, giá trị, nguồn gốc địa lý và các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ (chẳng hạn trường hợp sử dụng cụm từ "Tiền Hải" trên bao bì để mô tả nguồn gốc địa lý của nguồn nước khoáng thiên nhiên khai thác tại huyện Tiền Hải).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Phạm Đỗ Phương Thảo đã cung cấp bức tranh phân tích toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại tại Việt Nam. Công trình đã làm nổi bật các đặc thù pháp lý then chốt của tên thương mại, từ nguyên tắc tự động xác lập quyền qua thực tiễn sử dụng hợp pháp đến các giới hạn nghiêm ngặt trong chuyển giao quyền tài sản nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Đồng thời, nghiên cứu đã nhận diện chính xác các xung đột thực tiễn giữa thủ tục đăng ký tên doanh nghiệp và việc bảo vệ tên thương mại, từ đó đóng góp những giải pháp thiết thực hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý kinh tế trong giai đoạn hội nhập hiện nay.