PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng mở rộng và phát triển. Công dân của một quốc gia có thể sinh sống và làm việc ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Vì vậy vấn đề bảo hộ quyền và lợi ích của họ được các quốc gia đặc biệt quan tâm và đặt lên hàng đầu.
Một trong những vấn đề quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia hiện nay là vấn đề bảo hộ công dân. Nói như vậy là vì một trong những yếu tố cấu thành nên một quốc gia chính là dân cư sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia đó. Trong mối quan hệ qua lại giữa quyền và nghĩa vụ của công dân với một quốc gia, công dân phải thực hiện một số nghĩa vụ, đồng thời cũng hưởng một số quyền lợi mà quốc gia dành cho mình. Một trong những quyền mà mọi công dân quan tâm nhất hiện nay là quyền được bảo hộ khi đang ở nước ngoài đây chính là trách nhiệm của mỗi quốc gia đối với công dân của mình.
Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế và giao thoa văn hoá giữa các quốc gia với nhau. Công dân nước ta ra nước ngoài vì nhiều lý do khác nhau có thể là học tập, lao động, du lịch,… Theo báo cáo của Cục Quản lý Lao động ngoài nước, Bộ LĐ-TB&XH, năm 2021, cả nước có hơn 45.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, bằng 57,3% so với cùng kỳ năm 20201. Theo số liệu thống kê của Cục Hợp tác Quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo), năm 2020 Việt Nam có khoảng 190.000 du học sinh Việt Nam đang học tập, nghiên cứu tại nước ngoài2. Số lượng khách Việt Nam đi du lịch quốc tế luôn đạt mức tăng trưởng từ 10-15%/năm.
Khảo sát thống kê từ ASEAN Travel 2018 cho thấy nếu năm 2012 Việt Nam có khoảng 4,8 triệu lượt 1 An Nhi (2022).000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Truy cập vào 14/04/2023, từ https://dantri.vn/lao-dong-viec-lam/nam-2021-viet-nam-co-hon-45000-lao-dong- di-lam-viec-o-nuoc-ngoai- htm 2 Nghiêm Huê (2020).000 lưu học sinh Việt Nam đang ở nước ngoài: Bộ GD&ĐT khuyến cáo khẩn. Truy cập vào 14/04/2023, từ https://tienphong.vn/190000-luu-hoc-sinh-viet-nam-dang-o- nuoc-ngoai-bo-gddt-khuyen-cao-khan-post1223601. 2 khách Việt đi du lịch nước ngoài, thì đến năm 2018 con số này đã gần gấp đôi lên 8,6 triệu lượt3.
Việt Nam đã gia nhập Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự và đến nay Việt Nam đã ký gần 20 Hiệp định và thỏa thuận về lãnh sự, 16 Hiệp định và thỏa thuận về vấn đề nhận trở lại công dân,… đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài. Sự ra đời của “Qũy Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam năm 2007 ở nước ngoài” đã cho thấy những nỗ lực không ngừng nghỉ của nhà nước trong công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài. Trong bối cảnh toàn cầu hóa với những thay đổi đa dạng, phức tạp về tình hình an ninh, chính trị, những khó khăn như thiên tai, dịch bệnh,chiến tranh,… Đặc biệt là trong thời kỳ dịch bệnh Covid 19 xảy ra, cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraina, … gây ra nhiều ảnh hưởng lớn đến công dân Việt Nam ở nước ngoài. Ngoài ra hiện tượng di cư, cư trú bất hợp pháp ở nước ngoài là khá phổ biến, số lượng các cơ quan đại diện tại nước ngoài còn hạn chế;… gây khó khăn nhiều trong công tác bảo hộ công dân của Việt Nam.
Chính vì thực trạng trên nên tác giả chọn đề tài “Vấn đề bảo hộ công dân - Vai trò của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự dưới góc độ của pháp luật Việt Nam và luật quốc tế ” để làm rõ vấn đề trên và làm bài luận cuối khóa của mình. Tình hình nghiên cứu đề tài Ở Việt Nam hiện nay có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu được thực hiện bởi các cấp độ khác nhau để đề cập đến vấn đề bảo hộ công dân: - Nguyễn Công Khanh, Cơ sở pháp luật bảo hộ quyền lợi của công dân Việt Nam ở nước ngoài, Tạp chí luật học, Trường đại học luật Hà Nội, số 5/1997. 3 Theo Người Lao Động (2019). Người Việt đi du lịch nước nào nhiều nhất?.
Truy cập vào 14/04/2023, từ https://vietnamnet.vn/nguoi-viet-di-du-lich-nuoc-nao-nhieu-nhat-556060. 3 -Nguyễn Phú Bình, Bảo hộ quyền lợi của công dân Việt Nam ở nước ngoài, Đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ ngoại giao, Hà Nội, 1998. - Bùi Quốc Thành, Bảo hộ lãnh sự đối với người lao động Việt Nam ở nước ngoài, Đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ ngoại giao, Hà Nội, 2011. - Chủ nhiệm đề tài TS.
Nguyễn Thị Kim Ngân, Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia- Kinh nghiệm cho Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học. Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2018. -Lê Đình Khôi, Bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2012; Nguyễn Văn Nhân, Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường đại học Cần Thơ,Cần Thơ, 2014; Trần Thị Thu Thủy, Bảo hộ công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học luật Hà Nội, Hà Nội, 2014; Đàm Thị Bích Hạnh, Bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2014;.
Mục đích nghiên cứu đề tài Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ công dân từ đó đề xuất một số giải pháp kiến nghị để nâng cao công tác bảo hộ công dân. Trên cơ sở những giải pháp kiến nghị đó người viết hy vọng công tác bảo hộ công dân của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam ngày càng hiệu quả cao hơn. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài Đề tài bảo hộ công dân là một đề tài rất rộng vì trên thực tế có rất nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động bảo hộ công dân chẳng hạn bảo hộ cho người lao động, bảo hộ trong trường hợp công dân bị bắt giữ ở nước ngoài. Tuy nhiên trong phạm vi bài luận này người viết chỉ tập trung phân tích những vấn đề lý luận của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo hộ trong công dân.
Đồng thời tìm hiểu thực tế một số trường hợp bảo vệ công dân trên thế giới và Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu Để làm sáng tỏ nội dung của đề tài và đưa ra kiến nghị giải pháp về bảo hộ công dân người viết đã sử dụng các biện pháp như so sánh, thống kê, hệ thống và phân tích tổng hợp nhằm làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan. Phương pháp so sánh sử dụng nghiên cứu, đánh giá điểm tương đồng cũng như khác biệt và mức độ tương thích của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Phương pháp thống kê được sử dụng nghiên cứu, đánh giá thực tiễn bảo hộ công dân.
Phương pháp hệ thống và phân tích tổng hợp là những phương pháp đang sử dụng phổ biến nhất để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về bảo hộ công dân xuyên suốt các nội dung nghiên cứu của đề tài. Bố cục tổng quát của khóa luận Ngoài phần mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận được chia làm hai chương: Chương 01: Cơ sở lý luận chung và quy định pháp luật về vấn đề bảo hộ công dân của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự. Chương 02: Thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề bảo hộ công dân Việt Nam của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự - Đề xuất kiến nghị 5 CHƯƠNG 01: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN CỦA CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO VÀ LÃNH SỰ 1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề bảo hộ công dân của cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự 1.
Khái niệm công dân Công dân là cá nhân, con người cụ thể, có năng lực pháp lý và năng lực hành vi, có các quyền và nghĩa vụ theo các quy định pháp luật của một quốc gia. Căn cứ pháp lý để xác định công dân của một nhà nước nhất định là quốc tịch của người đó. Theo quy định tại Điều 17 Hiến pháp năm 2013, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ.
Khái niệm bảo hộ Trong từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “bảo hộ” được hiểu theo hai nghĩa sau: Thứ nhất, bảo hộ có nghĩa là che chở, không để bị hư hỏng, tổn thất; Thứ hai, bảo hộ là việc cai trị bằng cách dùng bộ máy chính quyền thực dân đặt lên chính quyền bản xứ còn tồn tại về hình thức.4 Về ngữ nghĩa, “bảo hộ” là từ ghép giữa “bảo” (giữ gìn) và “hộ” (giúp đỡ). Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) cũng đưa ra định nghĩa: “Bảo hộ bao gồm tất cả những hoạt động nhằm đạt được sự tôn trọng hoàn toàn đối với các quyền cá nhân, phù hợp với ngữ nghĩa và tinh thần của các luật khác có liên quan (chẳng hạn như luật về nhân quyền luật nhân đạo luật về người tị nạn, v. Các tổ chức về nhân quyền và nhân đạo sẽ kiểm soát quản lý những hoạt động này một cách công bằng và không dựa trên chủng tộc, dân tộc hay sắc tộc, ngôn ngữ hay giới tính”5. Từ điển tiếng Việt.
Nhà xuất bản Đà Nẵng-Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng. 5 Sylvie Giossi Caverzasio-Strengthening Protection in War.International Committee of the Red Cross, Central Tracing Agency and Protection Division (2001), trang 19. Khái niệm bảo hộ công dân Bảo hộ công dân được quy định trong hệ thống pháp luật quốc tế vào hầu hết hệ thống pháp luật của các quốc gia nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hộ công dân. Bảo hộ công dân thường được tiếp cận ở hai góc độ là nghĩa rộng và nghĩa hẹp.