CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO HIỂM THAI SAN VA PHAP LUAT VE BAO HIEM THAI SAN 111. Một số van đề lý luận về bảo hiểm thai san LLL Khái niệm bảo hiểm thai sin ‘Bao hiểm thai sản là một trong các chế độ của bao hiểm xã hội, được áp dụng chủ yêu với lao động nữ. Thiên chức làm me là một thiên chức cao cả đôi hồi sự hỉ sinh rat lớn từ người lao động nữ, vì vay ho không thé tránh khỗi những khó khăn khi thực hiên thiến chức của mình. Trong thời lũ thai sẵn, người lao đông nữ can hỗ trợ cả về sự chăm sóc y tế, cân bằng vật chat lẫn.
tính thắn Nắm bất được mong muôn, nhu câu của người lao động nữ, bao hiểm thai sản được ra đời. Bảo hiểm thai sin với mục đích cân bằng thu nhập và bao dm về vật chất cho NLD nữ để NLD yên tâm thực hiện thiên chức của mình Nhân thay được ý nghĩa quan trong của bảo hiểm thai sản, Tổ chức Lao. đông quốc tế (Intemational Labour Organization - ILO) đã thông qua Công tước số 3 năm 1919, Công ước 102 năm 1952, Công ước 103 năm 1952, Công tước 183 năm 2000. Trong dé, các công ước nêu lên quy định vẻ bão dam sức khoẻ của lao động nữ khi mang thai va cho con Dũ, quy đính vẻ thời giờ nghĩ ngơi; quyển được trả trợ cấp thai sản, các quy định vẻ sa thải và phân biệt đổi xử đốt với NLD có sự kiện thai sin.
Khéng chỉ minh ILO, các tổ chức quốc tế khác cũng ban hành các văn bản quy định đầm bảo quyển lợi cho NLD khi ‘mang thai, sinh con, nuôi con sơ sinh như. Công tước vẻ quyển kinh tá, xã hội, văn hoa (ICESCR) được Liên Hop Quốc thông qua nim 1966, có hiệu lực năm 1976 ghi nhân cin có sự quan têm đặc biệt cho các bà me trong thời gian trước và sau khi sinh va trong thời gian nghĩ sinh phải dm bao các khoăn trợ cắp an sinh xã hội va được trả lương!. Hay như Công ước về xơá bỏ moi hình thức phân biệt đối xử chồng lai phụ nữ (CEDAW) được Hội đồng Liên Hop Quốc chấp thuận năm 1979 ghi nhận vé chế đồ nghĩ ngơi cho người mẹ và dam bão được trả lương, các trợ cấp xã hội mà không bi mắt việc làm”. Do đó, qua các quy đính tại các công ước quốc tế cho thấy bao hiểm thai sẵn la một chế đô rất quan trong đặc biết là với người lao động nữ gop phan bù đắp những khó khăn mả lao động nữ phải trai quả khí rơi vào tinh trang thai sẵn Bao hiểm thai sản cũng là một chế độ được các quốc gia chủ trọng phát triển như tại Anh, Pháp, Bi, Trung Quốc.
ở mỗi nước sẽ có một cách hiểu. ‘chai niein bag hiển hai săn tiếng, VP du, tiep nghiên cửu về ban hiễuh that sản ở Trung Quốc, bao hiểm thai sản là khái niêm bao gồm chỉ phí bảo đêm. kinh tế và cũng cấp các dich vụ chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ trong thời kỹ trước khi sinh, sau sinh vả sau khi sinh”. Hay tai Singapore, BHTS la các chế đô bao gồm tro cấp thay lương trong thời gian nghĩ thai sản và các chỉ phí y tế trong qua trình mang thai, sinh con * Nhìn chung, khái niêm bão hiểm thai sản ỡ các quốc gia déu có điểm chung la quy định vé các quyền lợi của người lao động nữ có tham gia BHXH khi sự kiện thai sẵn xảy ra G Việt Nam, bảo hiểm thai sản là một chế đô thuộc bao hiểm xã hội bat buộc.
Cu thé, theo Luật BHXH năm 2014 đã quy định BHXH 1a sự đảm bao thay thé hoặc bù đắp một phân thu nhập của người lao động khi họ bị giảm. hoặc mit thu nhập liên quan đến ôm dau, thai sản, tai nạn lao đồng, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chét, trên cơ sở đóng vảo quỹ BHXH. Do đó, ‘bao hiểm thai sẵn là sự đảm bao thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập của người lao động khi họ bi giãm hoặc mắt thu nhập khi xây ra các sự kiện thai sản rên cơ sử có tham gia BHXH Standands and Local Responses Hin Phương (2010), BHXH doi vi lao động xố bong cho Viet Man, Tap chỉ Luật học số 02/2010 số nước ASEAN va những lạnh nghiệm háp hat một Từ định nghĩa trên, co thể hiểu, bảo hiểm thai sản có mục đích nhằm. đâm bao thay thé hoặc bù dip một phẩn thu nhập của người lao đông nữ khi ho bị giảm hoặc mắt thu nhâp khi mang thai, sinh con, mudi con sơ sinh, nhân.
nuôi con va cho người lao động nói chung khi sinh con, nuối con sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai và giúp người lao đông được hưởng giữ cân ‘bang thu nhập, phan nao ồn định cuộc sông khi ho bị giảm hoặc mắt thu nhập liên quan đến thai sản. Ngoài mang những đặc điểm chung của BHXH bat buộc như đều có đổi tượng áp dụng la người lao động, phạm vi áp dung la người lao động khi xảy ra rủi ro; điều kiện hưởng la người lao đông phải tham gia đóng BHXH va NSDLĐ có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao đông của mình. Tuy nhiên, BHTS cũng có những đặc trưng của mình ‘Tine nhất, bao hiém thai san áp dụng với người lao động khi phát sinh sự kiện thai sẵn. Đối tương nay chủ yêu là lao động nữ do thiên chức lam me của ho.
Ngoài ra, trong một số trường hợp được quy định, lao đông nam tham gia BHXH cũng được hưởng BHTS. Thứ hai, BHTS là chế độ BHXH ngắn han do BHTS chi tra một khoản trợ cấp khi NLD phải nghỉ việc để sinh con, nui con nhằm san sẽ khó khăn. vẻ tài chính cho họ Thứ ba, BHTS góp phân tai tạo lao động. NLD nữ trong quá tỉnh mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ hay gặp các van để vẻ thai sản khác déu gặp rất nhiễu khó khăn cả vẻ tải chính và tinh thắn.
Việc trợ cấp BHTS phân nào giúp ho yên tâm thực hiện tốt thiên chức của mình, nghĩ ngơi, chăm sóc sức khoẽ để tiếp tục tham gia lao đông, 1. Ý nghĩa bảo h m thai sẵn. Bao hiểm thai sản có ý nghĩa rat lớn đổi với bản thân người lao đồng và gia định ho, đổi với các đơn vị sử dung lao động cũng như đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của dat nước 10 BS1 với người lao động, bao hiểm thai sàn gop phân bu đắp tai chính khi người lao động xảy ra sự kiện thai sản. Có thể , khi người lao đồng nghĩ Việc vì sinh con vả chăm sóc cơn sơ sinh, nguồn thu nhập của họ sir bi giảm.
Bảo hiểm thai sản không những bù đắp được khoản thu nhập bị giảm. đó ma còn hỗ trợ thêm một phân chi phí tăng thêm để người lao động sử dung 8d đnlÌcun;nuẩ:cnnsơ.anh:Ui vậy đến biển hoi lần gp ghia quan trong. trong việc bảo vệ sự phát triển của mỗi gia đình, tử đó góp phan phát triển. kinh tế sã hội của đất nước, Đối với người sử dung lao động, bao hiểm thai sản góp phân thu hút lao.
đông nữ vào các đơn vi có tham gia BHXH bắt buộc. Lực lương lao động nit chiếm ti lê không nhỗ trong cơ cẩu nhân lực lao động va nhu câu tham gia lao đông của ho ngày cảng tăng Việc thu người lao động nữ tham gia góp phan nâng cao năng suất lao động của doanh nghiệp, hoạt dng kinh doanh có hiệu quả hơn. Bao hiểm thai sản cũng thể hiện trách nhiệm của NSDLĐ đối với lao. đông nữ, nâng cao tính nhân văn trong quan hệ lao đông, Đối với xã hội, bảo hiểm thai sản gop phân thể hiện sự chia sẽ giữa NLD với nhau, giữa NSDLĐ với NLD và giữa nha nước với NLD tao nên zã hội công bằng và niém tin cho NLD.
Qua đó góp phản tải tao lực lượng lao động cho dat nước, góp phân dam bảo bình đẳng giới vả an sinh xã hội, lâu dai hon đó là thúc đẩy sự phát triển dn định, bên vững về dan số, chất lượng lao động, thé hệ tương lai của đất nước 1. Một số van dé lý luận về pháp luật bảo hiểm thai sản. Rhái niệm pháp luật về bio hiém thai sin Bao hiểm thai sản là hình thức bão vệ hữu hiệu cho người lao động đặc. biét là lao đông nữ được hấu hết các quốc gia trên thể giới áp dung.
BHTS trở thành bộ phân quan trọng trong hệ thông pháp luật BHXH và hé thống pháp luật an sinh zã hội " Trong các Công ước 102, Công tước 103 của ILO đã quy định rất cụ thé, chi tiết vé bao hiểm thai sản mã các nước thanh viên tham gia phai thực hiện Các quốc gia trên thé giới đều xác định vai trò quan trong của BHTS, tuy nhiền sự điều chỉnh pháp luật đổi với BHTS ở các quốc gia sé có sự khác nhau nhất định, hay thêm chỉ ở một quốc gia trong những giai đoạn phát triển khác nhau cũng sẽ có sự quy định khác nhau. Việc pháp luật về BHTS có sự khác nhau phụ thuộc vào điều kiện lanh tế xã hội, quan niệm, mô hình của BHXH nói chung và BHTS nói riêng ‘Tuy có sư khác nhau nhưng hau hết các quốc gia đều xác định đối tượng, điều chỉnh của pháp luật vé BHTS lá mối quan hệ giữa NLD, NSDLD va một ‘bén quin lý quỹ tiên tệ tập trung, nhdm đăm bao diéu kiện vật chất tỉnh thân. cho NLD khi có sự kiến mang thai, sinh con, nuôi con nhé. Ngoài ra, các quốc gia déu nhân định nội dung cơ bản của pháp luật BHTS bao gồm: đổi tượng áp dụng, các chế độ BHTS vả nguồn tải chính đảm bao trợ cấp BHTS.
6 Việt Nam, ngay từ khí thành lập chính quyền các chính sách, ché đô cho người phụ nữ khi sinh con đã được quy định rat rõ điển hình như tại Hiển pháp năm 1980, Hiển pháp năm 1992 có quy định phụ nữ có quyển được nghĩ trước và sau khi sinh dé ma vẫn hưởng nguyên lương nêu lả công nhân, viên. chức hoặc hưởng phụ cấp sinh để néu là xã viên hợp tác sã. Sau đó, nhằm cụ thể hoá các quy định của Hiển pháp, trong đó các chính sách của nha nước được cụ thể hoá để phù hợp với nên kinh tế thị trường lúc bẩy giờ vả bảo. hiểm thai sân cũng la mốt trong những chính sách, chế độ được nhà nước đặc biết quan tâm.