Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) nói chung và bảo hiểm thai sản (BHTS) nói riêng giữ vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam, nhằm bảo đảm nhu cầu thiết yếu và bù đắp thu nhập cho người lao động (NLĐ) khi gặp các biến cố liên quan đến thai sản. Trong quá trình tham gia quan hệ lao động, lao động nữ đảm nhận thiên chức mang thai, sinh con và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh; đây là giai đoạn họ đối mặt với nguy cơ gián đoạn việc làm, suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập chính, đồng thời gia tăng các chi phí y tế và chăm sóc gia đình. Việc thể chế hóa chính sách BHTS đã được ghi nhận xuyên suốt qua các bản Hiến pháp và văn kiện của Đảng. Trên cơ sở kế thừa các hạt nhân hợp lý của Luật BHXH năm 2006, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH năm 2014 với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm mở rộng diện bao phủ và nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng. Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng trong thực tiễn kinh tế - xã hội, nhiều quy định của pháp luật BHTS hiện hành đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập và chưa bao quát hết các quan hệ lao động mới phát sinh. Do đó, đề tài "Pháp luật về bảo hiểm thai sản ở Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị" được tác giả Trần Thị Xuân Hậu lựa chọn nghiên cứu nhằm phân tích toàn diện khung pháp lý và đề xuất giải pháp hoàn thiện trong bối cảnh Nhà nước đang triển khai sửa đổi Luật BHXH.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về BHTS và pháp luật BHTS, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành tại Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng, kiến nghị sửa đổi quy định và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

Để hiện thực hóa mục đích nêu trên, tác giả xác định 05 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số trong văn bản:

  1. Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về bảo hiểm thai sản (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm thai sản).
  2. Thứ hai, nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm thai sản (khái niệm, nguyên tắc điều chỉnh, nội dung và vai trò của pháp luật bảo hiểm thai sản).
  3. Thứ ba, đánh giá, phân tích các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thai sản.
  4. Thứ tư, đánh giá, phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm thai sản hiện nay ở Việt Nam, chỉ rõ các ưu điểm và hạn chế trong quá trình thực thi.
  5. Thứ năm, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm thai sản ở Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh chế độ BHTS, trọng tâm là Luật BHXH năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành (nghị định, thông tư); đồng thời mở rộng tham khảo các chuẩn mực lao động quốc tế từ các công ước, khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và pháp luật BHTS của một số quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Philippines, Singapore, Thái Lan.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các chế định: đối tượng áp dụng; điều kiện hưởng; các chế độ BHTS cụ thể; chế độ hưởng (thời gian nghỉ việc và mức trợ cấp). Về mặt dữ liệu, khóa luận sử dụng số liệu thực tiễn thi hành pháp luật BHTS tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2022. Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu, không đi sâu vào nội dung giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực BHTS.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về an sinh xã hội. Về mặt lý thuyết chuyên ngành, đề tài tiếp cận khái niệm BHXH từ Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về quy chuẩn tối thiểu an sinh xã hội, xác định BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị mất hoặc giảm khả năng lao động thông qua một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên cấu thành. Từ góc độ pháp lý Việt Nam, tác giả dựa trên khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 để định nghĩa BHTS là một chế độ an sinh ngắn hạn bắt buộc, trợ cấp thu nhập và bảo vệ sức khỏe cho NLĐ khi phát sinh sự kiện thai sản.

Nghiên cứu làm rõ ba nguyên tắc pháp lý căn bản điều chỉnh quan hệ BHTS:

  • Nguyên tắc mức đóng được tính trên cơ sở tiền lương của NLĐ, trong đó người sử dụng lao động (NSDLĐ) có trách nhiệm đóng 3% trên quỹ tiền lương đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau - thai sản, NLĐ không phải đóng khoản này.
  • Nguyên tắc "lấy số đông bù số ít" và "hưởng thụ trên cơ sở đóng góp", bảo đảm tính chia sẻ rủi ro xã hội trong cộng đồng những người tham gia.
  • Nguyên tắc thủ tục thực hiện BHTS phải đơn giản, dễ thực hiện, bảo đảm tính kịp thời và đầy đủ quyền lợi cho NLĐ.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh luật học, chứng minh, thống kê số liệu, suy luận logic, phương pháp lịch sử và nghiên cứu thực tiễn. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHXH năm 2006 và 2014, Bộ luật Lao động năm 2012 và 2019, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Nghị định số 143/2018/NĐ-CP, Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH, Thông tư số 06/2021/TT-BLĐTBXH, Công văn số 3432/LĐTBXH-BHXH); số liệu thống kê thu - chi quỹ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam; kết quả thanh tra chuyên ngành BHXH; cùng các luận văn thạc sĩ luật học chuyên khảo về BHTS tại các địa phương (Hoàng Thủy Hà, Đặng Thị Thu Hường, Thiều Thị Minh Huyền, Mai Nguyễn Ngọc Huyền, Nguyễn Hồng Sáng, Nguyễn Thị Ngọc Thành, Lê Hoàng Thanh Mai, Ma Thị Hương).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thai sản và pháp luật về bảo hiểm thai sản

Chương 1 xây dựng khung lý luận tổng quan về BHTS và cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với chế độ này:

  • Về bản chất và đặc điểm: BHTS có ba đặc trưng cơ bản: (1) áp dụng chủ yếu đối với lao động nữ gắn với thiên chức sinh sản, đồng thời mở rộng cho lao động nam trong một số trường hợp cụ thể; (2) là chế độ BHXH ngắn hạn, trợ cấp một khoản tiền tạm thời nhằm chia sẻ gánh nặng kinh tế khi NLĐ phải tạm ngừng việc; (3) góp phần quan trọng vào việc tái tạo sức lao động cho xã hội.
  • Về vai trò: Tác giả phân tích tác động đa chiều của BHTS đối với NLĐ (bù đắp thiếu hụt thu nhập, hỗ trợ chi phí mua sắm dụng cụ sinh hoạt cho trẻ, ổn định tâm lý và sức khỏe), đối với NSDLĐ (công cụ thu hút và duy trì nguồn nhân lực, thể hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp), và đối với Nhà nước - xã hội (thực thi bình đẳng giới, điều hòa lợi ích giai cấp, thúc đẩy năng suất lao động và bảo đảm an toàn xã hội).
  • Về nội dung pháp luật BHTS: Pháp luật quy định phạm vi đối tượng áp dụng gồm 06 nhóm NLĐ theo khoản 1 Điều 30 Luật BHXH năm 2014, có bước phát triển quan trọng khi mở rộng sang nhóm hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (áp dụng từ 01/01/2018), người quản lý điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã có hưởng lương, và lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo Nghị định số 143/2018/NĐ-CP. Đồng thời, chương này phân tích các quy định khung về điều kiện hưởng, thời gian nghỉ và công thức tính trợ cấp thay thế tiền lương.

Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ bảo hiểm thai sản

Chương 2 tập trung mổ xẻ chi tiết 07 chế độ thai sản theo quy định hiện hành và khảo sát thực tiễn áp dụng:

  1. Chế độ khi khám thai: Lao động nữ được nghỉ việc đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc thai có bệnh lý được nghỉ 02 ngày/lần (tính theo ngày làm việc). Mức hưởng mỗi tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc.

  2. Chế độ khi sinh con:

  • Điều kiện hưởng: Lao động nữ phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi sinh con. Điểm mới tiến bộ là trường hợp đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc dưỡng thai theo chỉ định của bác sĩ thì chỉ cần đóng từ đủ 03 tháng trở lên trong 12 tháng trước khi sinh.
  • Thời gian nghỉ việc: Lao động nữ được nghỉ 06 tháng (nghỉ trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng); sinh đôi trở lên thì từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. Trường hợp con chết sau khi sinh: con dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ 04 tháng tính từ ngày sinh con; con từ 02 tháng tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ 02 tháng tính từ ngày con chết (không vượt quá tổng thời gian 06 tháng).
  • Quyền lợi của lao động nam có vợ sinh con: Được nghỉ 05 ngày làm việc (sinh thường); 07 ngày làm việc (vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc con sinh non dưới 32 tuần tuổi); 10 ngày làm việc (vợ sinh đôi, sinh ba trở lên thì mỗi con thêm 03 ngày); 14 ngày làm việc (vợ sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật). Theo Thông tư số 06/2021/TT-BLĐTBXH, lao động nam được phép nghỉ nhiều lần nhưng phải bắt đầu trong vòng 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh.
  • Mức trợ cấp: Hưởng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc; trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở (theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, mức lương cơ sở 1.800.000 đồng tương đương mức trợ cấp 3.600.000 đồng/con; thời điểm trước là 1.490.000 đồng tương đương 2.980.000 đồng/con).
  1. Chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý: Thời gian nghỉ tối đa tính cả ngày nghỉ lễ, Tết, nghỉ hàng tuần dựa trên tuổi thai:
  • Thai dưới 05 tuần tuổi: nghỉ tối đa 10 ngày;
  • Thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi: nghỉ tối đa 20 ngày;
  • Thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi: nghỉ tối đa 40 ngày;
  • Thai từ 25 tuần tuổi trở lên: nghỉ tối đa 50 ngày. Mức hưởng một ngày bằng mức bình quân tiền lương 06 tháng chia cho 30 ngày. Khóa luận lưu ý trường hợp phá thai theo ý muốn chủ quan không có chỉ định bệnh lý thì không thuộc diện hưởng BHTS.
  1. Chế độ khi nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi: NLĐ đóng BHXH đủ 06 tháng trong 12 tháng trước khi nhận con nuôi được nghỉ việc hưởng chế độ cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Hưởng 100% tiền lương bình quân tháng và trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở cho mỗi con.

  2. Chế độ khi thực hiện biện pháp tránh thai: Được nghỉ 07 ngày đối với biện pháp đặt vòng tránh thai; nghỉ 15 ngày đối với biện pháp triệt sản (tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tuần).

  3. Chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản: Lao động nữ trong khoảng 30 ngày đầu làm việc sau chế độ thai sản mà sức khỏe chưa phục hồi được nghỉ từ 05 đến 10 ngày (tối đa 10 ngày nếu sinh từ 03 con trở lên/lần; tối đa 07 ngày nếu sinh con phải phẫu thuật; tối đa 05 ngày cho các trường hợp khác). Mức trợ cấp một ngày bằng 30% mức lương cơ sở (tương đương 540.000 đồng/ngày theo mức lương cơ sở mới, trước đó là 447.000 đồng/ngày).

  4. Chế độ đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ: Quy định tại Điều 35 Luật BHXH năm 2014 nhằm tương thích với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Người mang thai hộ được hưởng các chế độ từ khám thai đến sinh con (nghỉ tối thiểu 60 ngày tính từ ngày sinh cho đến thời điểm giao đứa trẻ). Người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

Về thực tiễn thực hiện, tác giả nêu bật các kết quả tích cực: việc mở rộng hợp đồng từ 01 đến dưới 03 tháng chấm dứt tình trạng NSDLĐ lách luật bằng cách ký liên tiếp hợp đồng mùa vụ 25-28 ngày; chế độ cho lao động nam phát huy giá trị nhân văn và chia sẻ gánh nặng gia đình; quy mô người tham gia và số chi trả BHTS tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn bộc lộ hạn chế: tỷ lệ bao phủ ở khu vực phi chính thức còn rất thấp; lao động tự do tham gia BHXH tự nguyện hoàn toàn bị bỏ trống chế độ BHTS; tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH kéo dài; phát sinh vướng mắc đặc thù như giáo viên có thời gian nghỉ thai sản 06 tháng trùng kỳ nghỉ hè 02 tháng chưa được giải quyết quyền lợi hoãn/bù ngày nghỉ; thời gian khám thai ở xa còn hạn hẹp.

Chương 3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm thai sản

Dựa trên mục lục và định hướng nghiên cứu, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp chia thành hai nhóm:

  • Nhóm hoàn thiện pháp luật: (1) Mở rộng đối tượng và bổ sung chế độ BHTS vào nhóm quyền lợi dành cho người tham gia BHXH tự nguyện nhằm thu hút lao động nữ khu vực phi chính thức; (2) Tăng mức hưởng trợ cấp BHTS tương xứng với chi phí sinh hoạt gia tăng; (3) Bổ sung và điều chỉnh quy định về thời gian hưởng chế độ (kéo dài ngày nghỉ khám thai cho người ở vùng sâu vùng xa, bổ sung cơ chế tính bù thời gian nghỉ thai sản trùng với thời gian nghỉ hè của giáo viên, đồng bộ liên thông giữa Luật BHXH với Luật Hôn nhân và Gia đình trong việc giải quyết thủ tục mang thai hộ).
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: (1) Tối ưu hóa công tác quản lý và cải cách thủ tục hành chính ngành BHXH; (2) Nâng cao chất lượng, năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ của đội ngũ nhân sự làm công tác BHXH; (3) Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật BHTS nhằm nâng cao nhận thức cho cả NLĐ và NSDLĐ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế phản ánh quy mô và kết quả thực hiện chính sách BHXH bắt buộc và chế độ ốm đau - thai sản tại Việt Nam:

Chỉ tiêu thống kê Mốc thời gian ban đầu Mốc thời gian sau Mức độ gia tăng / Tỷ lệ so sánh
Số người tham gia BHXH bắt buộc 12,8 triệu người (năm 2016) 16,5 triệu người (nửa đầu 2022) Tăng gấp hơn 1,2 lần (tương đương >120% so với 2016)
Tổng số thu quỹ BHXH bắt buộc 194.576 tỷ đồng (năm 2017) 261.214 tỷ đồng (năm 2020) Tăng gấp hơn 1,3 lần (bình quân tăng khoảng 0,4 lần/năm)
Số chi quỹ ốm đau - thai sản 23.016 tỷ đồng (năm 2017) 30.725 tỷ đồng (năm 2020) Tăng thêm 7.709 tỷ đồng (tăng trưởng 33,5%)

Các đóng góp khoa học và thực tiễn do tác giả tự xác định bao gồm:

  • Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn các quan điểm lý luận về bản chất, đặc trưng, nguyên tắc và vai trò của pháp luật BHTS trong tổng thể hệ thống pháp luật an sinh xã hội tại Việt Nam.
  • Về mặt lập pháp và chính sách: Khóa luận cung cấp các bình luận, đánh giá thực trạng các quy định hiện hành của Luật BHXH năm 2014; chỉ ra các khoảng trống pháp lý (như chế độ BHTS trong BHXH tự nguyện, trường hợp thai đôi thai ba mà con bị chết sau sinh, giáo viên trùng lịch nghỉ hè); từ đó hình thành luận cứ đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật BHXH.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho người làm công tác an sinh xã hội, tổ chức công đoàn, cán bộ nhân sự doanh nghiệp và sinh viên chuyên ngành luật trong việc tìm hiểu, vận dụng các quy định BHTS.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thể hiện sự nghiêm túc về mặt khoa học khi tự giới hạn phạm vi và chỉ ra các ranh giới nghiên cứu trong văn bản:

  • Đề tài không đi sâu nghiên cứu trình tự, thủ tục và cơ chế giải quyết tranh chấp pháp lý phát sinh trong lĩnh vực BHTS giữa NLĐ, NSDLĐ và cơ quan BHXH.
  • Phạm vi số liệu thực tiễn chủ yếu tập trung từ năm 2019 đến năm 2022, phản ánh tình hình trước thời điểm Luật BHXH sửa đổi mới nhất được Quốc hội xem xét thông qua.
  • Về hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng khảo sát các mô hình kinh nghiệm quốc tế về việc tích hợp gói trợ cấp thai sản vào BHXH tự nguyện tại các nước đang phát triển; nghiên cứu cơ chế giải quyết các vụ việc khiếu nại, khởi kiện về trốn đóng BHTS; và đánh giá tác động chi trả thực tế khi Luật BHXH sửa đổi có hiệu lực thi hành.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Lao động, Luật An sinh xã hội, Quản trị nhân lực khi nghiên cứu về chế định bảo hiểm ngắn hạn và quyền lợi của lao động nữ.
  • Chuyên viên nhân sự (C&B) tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong việc rà soát điều kiện hưởng, hồ sơ giấy tờ, thời gian nghỉ phép và công thức tính trợ cấp thai sản cho nhân viên đúng quy chuẩn.
  • Cán bộ công đoàn cơ sở nhằm giám sát việc trích nộp quỹ 3% ốm đau - thai sản của NSDLĐ và bảo vệ quyền lợi thai sản cho người lao động.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất là tiểu mục 2.1 của Chương 2 (hệ thống hóa chi tiết điều kiện, thời gian và công thức trợ cấp của 07 chế độ thai sản hiện hành) và Chương 3 (hệ thống các kiến nghị lập pháp phục vụ trực tiếp cho tiến trình sửa đổi Luật BHXH).

Câu hỏi thường gặp

1. Lao động nam tham gia BHXH bắt buộc có vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trong bao nhiêu ngày? Theo khoản 2 Điều 34 Luật BHXH năm 2014 và Thông tư số 06/2021/TT-BLĐTBXH, lao động nam đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ: 05 ngày làm việc (sinh thường); 07 ngày làm việc (vợ sinh mổ hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi); 10 ngày làm việc (vợ sinh đôi, sinh ba trở lên thì cứ mỗi con cộng thêm 03 ngày); 14 ngày làm việc (vợ sinh đôi trở lên phải mổ). Lao động nam có thể nghỉ làm nhiều lần nhưng phải bắt đầu trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh.

2. Lao động nữ phải nghỉ việc dưỡng thai theo chỉ định y tế cần đáp ứng điều kiện đóng BHXH như thế nào để được hưởng chế độ khi sinh con? Căn cứ khoản 3 Điều 31 Luật BHXH năm 2014, trường hợp lao động nữ sinh con đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì chỉ cần đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con (thay vì phải đủ 06 tháng như quy định thông thường).

3. Pháp luật quy định thời gian nghỉ hưởng chế độ đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ như thế nào? Theo Điều 35 Luật BHXH năm 2014, lao động nữ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ từ khi khám thai đến khi giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ (không vượt quá 06 tháng; nếu từ ngày sinh đến khi giao con chưa đủ 60 ngày thì vẫn được nghỉ đủ 60 ngày). Người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

4. Mức trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày được tính theo căn cứ nào? Theo khoản 3 Điều 41 Luật BHXH năm 2014, mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở. Mức trợ cấp này áp dụng cho số ngày nghỉ được duyệt (tối đa từ 05 đến 10 ngày tùy trường hợp sinh thường, sinh mổ hoặc sinh nhiều con).

5. Vì sao trường hợp phá thai theo nguyện vọng cá nhân không được thanh toán trợ cấp bảo hiểm thai sản? Căn cứ Điều 33 và điểm c khoản 1 Điều 39 Luật BHXH năm 2014, chế độ thai sản chỉ chi trả cho trường hợp "phá thai bệnh lý" theo chỉ định y khoa của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Việc phá thai xuất phát từ ý chí chủ quan, không vì chỉ định bệnh tật thì không phát sinh sự kiện bảo hiểm thai sản, NLĐ chỉ có thể xem xét chế độ ốm đau nếu đủ điều kiện quy định.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Xuân Hậu đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý về bảo hiểm thai sản theo Luật BHXH năm 2014 tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tiễn giai đoạn 2017 - 2022, công trình làm rõ những thành tựu nổi bật trong việc mở rộng diện bao phủ đối tượng tham gia và bảo đảm quỹ an sinh, đồng thời vạch rõ các bất cập trong việc bảo vệ lao động nữ khu vực phi chính thức và các tình huống phát sinh đặc thù. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật được xây dựng có tính kế thừa và bám sát yêu cầu sửa đổi Luật BHXH, góp phần củng cố chính sách an sinh xã hội bền vững và bảo đảm quyền con người cho người lao động.