đặt vấn đề ANPTT của các quố c gia, khu vực và cộng đồng có những điểm khác nhau nhất định. Việc khuôn những vấn đề cụ thể nào đó trong nội hàm của vấn đề ANPTT nhƣ các nhận thức nêu trên đều mang ý nghĩa tƣơng đối, nhằm phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng chính sách, pháp luật, chiến lƣợc an ninh của đất nƣớc và những cam kết an ninh song phƣơng, đa phƣơng trong hợp tác quốc tế. Với nội hàm khái niệm trên, nguy cơ đe dọa từ ANPTT ở nƣớc ta có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh truyền thống vốn mục đích, tôn chỉ là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa an ninh truyền thống và ANPTT, nhiều quan điểm cho rằng đó là mối quan hệ biện chứng, là hai mặt của đồng xu (2 sides of acoin), đều có mục đích bảo vệ chế độ, sự tồn tại của Nhà nƣớc, độc lập chủ quyền và toàn vện lãnh thổ, an ninh 1 Quốc phòng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb.
Thế giới, Hà Nội, 2004, tr. 11 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công đồng, an ninh xã hội, trong đó an ninh con ngƣời là vấn đề hạt nhân, “con ngƣờilà trung tâm của chiến lƣợc phát triển”2. Điều đó đã đƣợc minh chứng khi quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta xác định: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng – an ninh”3, “Những vấn đề toàn cầu nhƣ an ninh tài chính, an ninh năng lƣợng, an ninh nguồn nƣớc, an ninh lƣơng thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp. Cộng đồng quốc tế phải đối phó ngày càng quyết liệt hơn với các thách thức an ninh truyền thống, phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng và các hình thái chiến tranh kiểu mới”4 Kể từ sau Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên những lĩnh vực ANPTT, Việt Nam cùng các nƣớc ASEAN đã triển khai với các nƣớc đối thoại, đặc biệt là với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU, các tổ chức quốc tế trong hợp tác đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia cũng nhƣ các lĩnh vực an ninh phi truyền thống khác.
Mới đây nhất, ngay tại tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 28- 29 tổ chức ngày 7/9/2016 tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, ngoài hai Hội nghị Cấp cao 28 -29 của ASEAN, còn có một số hội nghị cấp cao liên quan gồm Hội nghị cấp cao ASEAN – Trung Quốc lần thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Nhật Bản lần thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Hàn Quốc lần thứ 18; Hội nghị cấp cao ASEAN + 3 lần thứ 19; Hội nghị cấp cao ASEAN – Australia lần thứ 2; Hội nghị cấp cao ASEAN – Liên hợp quốc lần thứ 8; Hội nghị cấp cao ASEAN - Ấn Độ lần thứ 14; Hội nghị cấp cao ASEAN – Mỹ lần thứ 4; Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 11; Hội nghị cấp cao Mê Công – Nhật Bản lần thứ 8, các nhà lãnh đạo ASEAN cùng các đối tác“ đã trao đổi về các thách thức khu vực 2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.76 3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.82 4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ƣơng Đảng, H, 2016, tr.72 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và quốc tế, trong đó có các hoạt động khủng bố, cực đoan, tội phạm mạng, vấn đề biến đổi khí hậu và bệnh dịch…”, trong đó khẳng định một trong những bảo đảm chính cho ANPTT là sử dụng công cụ pháp luật. Trở lại với pháp luật thực định của nƣớc ta trong bảo đảm ANPTT hiện nay, chúng ta nhận thấy hệ thống pháp luật đã ngày đƣợc hoàn thiện, tiêu biểu bao gồm các luật nhƣ:Hiến pháp năm 2013, Luật Quốc phòng năm 2005, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014, Luật phòng, chống thiên tai năm 2013, Luật sử dụng năng lƣợng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, Luật tài nguyên môi trƣờng và hải đảo năm 2015,Luậtđấtđainăm2013, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật bảo hiểm y tế năm 2008, Luật khám, chữa bệnh năm 2009, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật phá sản năm 2005, Luật đầu tƣ năm 2014, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật xử lý vi pham hành chính năm 2012, mới đây nhất, tại Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung thêm 34 tội danh mới, trong đó có các tội danh đe dọa ANPTT nhƣ tội khủng bố, tội cƣớp biển…đặc biệt theo Bộ luật hình sự mới sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thƣơng mại.
Sự hoàn thiện pháp luật trên ở nƣớc ta trong thời gian qua rất đáng ghi nhận, một mặt là thể chế hóa quan điểm của Đảng ta, mặt khác thể hiện những cam kết quốc tế cũng nhƣ nội luật hóa những công ƣớc, hiệp ƣớc, hiệp định, nghị định thƣ mà Việt Nam đã tham gia ký kết hoặc phê chuẩn. Tuy nhiên trƣớc những diễn biến rất phức tạp, trƣớc những “nhóm” thách thức ANPTT nổi cộm nhƣ môi trƣờng, tội phạm công nghệ cao… đang hiện hữu, đe dọa an ninh truyền thống, đòi hỏi bên cạnh những yếu tố bảo đảm ANPTT nhƣ thể chế, hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, tài trợ…thì yếu tố pháp luật cần hết sức chú trọng. Quan niệm về ANPTT tƣơng đối rộng lớn, đang là những thách thức, đe dọa nghiêm trọng đến ổn định, trật tự xã hội. Điều đó đòi hỏi tƣơng ứng với mỗi mảng, mỗi lĩnh vực ANPTT cần hiện diện kịp thời, đầy đủ hệ thống 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quy phạm, trƣớc hết và chủ yếu là quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm và kiểm soát có hiệu quả các mối đe dọa từ ANPTT.
Khái niệm về môi trường, môi tường, môi trường trong lành và ô nhiễm môi trường 1. Khái niệm về môi trường Môi trƣờng có thể định nghĩa rộng hay hẹp. Một số nƣớc định nghĩa môi trƣờng chỉ là môi trƣờng tự nhiên bao gồm: đất, nƣớc, không khí, chất hữu cơ, vô cơ và các sinh vật sống. Đa số các nƣớc định nghĩa môi trƣờng bao gồm cả môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng kinh tế - xã hội chịu ảnh hƣởng của những thay đổi trong môi trƣờng tự nhiên.
Theo Điều 3 Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2014 của Việt Nam: "Môi trƣờng là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật" (khoản 1). Theo điều luật này thì thành phần môi trƣờng là yếu tố vật chất tạo thành môi trƣờng gồm đất, nƣớc, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác (khoản 2)[21]. Nhƣ vậy, môi trƣờng là toàn bộ những yếu tố tự nhiên và vật chất bao quanh con ngƣời, có quan hệ mật thiết với nhau và ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phát triển kinh tế - xã hội và sự tồn tại, phát triển của con ngƣời. Hay nói cách khác, đó là hệ thống tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh con ngƣời và có ảnh hƣởng tới sự sống, phát triển của các cá nhân và cộng đồng ngƣời và các bộ phận của thiên nhiên.
Dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau (theo thành phần, quy mô, mức độ can thiệp của con ngƣời, mục đích sử dụng.) để phân loại môi trƣờng, trong đó cách phân loại phổ biến hơn cả đó là phân chia môi trƣờng theo thành phần: môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội và môi trƣờng nhân tạo. Môi trƣờng tự nhiên là toàn bộ các điều kiện tự nhiên bao quanh con ngƣời và các cơ thể sống khác, giữa chúng có những mối quan hệ hữu cơ, tác 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động qua lại gắn bó và ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới đời sống cũng nhƣ sự phát triển kinh tế - xã hội. Cấu trúc của môi trƣờng tự nhiên bao gồm: đất, nƣớc, không khí, hệ sinh thái động thực vật và những điều kiện tự nhiên khác có ảnh hƣởng tới đời sống con ngƣời. Môi trƣờng tự nhiên có phạm vi rộng, khi nghiên cứu về môi trƣờng tự nhiên của con ngƣời trong phạm vi trái đất, ngƣời ta dựa vào các thành phần để phân ra thành: môi trƣờng đất, môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng không khí và môi trƣờng sinh vật.
Môi trƣờng xã hội là tổng thể các quan hệ giữa ngƣời với ngƣời. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ƣớc định. ở các cấp khác nhau nhƣ: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nƣớc, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,. Môi trƣờng xã hội định hƣớng hoạt động của con ngƣời theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con ngƣời khác với các sinh vật khác nhƣng cũng có thể gây cản trở cho sự phát triển của cá nhân hoặc cộng đồng con ngƣời.
Môi trƣờng nhân tạo là toàn bộ các yếu tố do chính con ngƣời tạo ra, bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con ngƣời nhƣ: làng mạc, các công trình văn hoá, hệ thống sông ngòi… do con ngƣời tạo nên; là sự tƣơng tác giữa con ngƣời với con ngƣời trong đời sống và lao động sản xuất. Môi trƣờng nhân tạo có liên quan mật thiết gắn bó hữu cơ với môi trƣờng tự nhiên, chịu sự tác động của môi trƣờng tự nhiên. Ba thành phần môi trƣờng này cùng tồn tại, xen lẫn nhau và tƣơng tác chặt chẽ với nhau. Các thành phần môi trƣờng luôn chuyển hóa và diễn ra theo chu kỳ.
Thông thƣờng ở dạng cân bằng động. Sự cân bằng này bảo đảm cho sự sống trên trái đất phát triển ổn định. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu về môi trƣờng tự nhiên, do đó, thuật ngữ môi trƣờng sử dụng trong luận văn sẽ đƣợc hiểu là môi trƣờng tự nhiên. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.