Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 1. Khái niệm, nội dung, bản chất, đặc điểm của quyền con người trong công tác quản lý nhà nước về hộ tịch 1. Khái niệm hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch 1. Khái niệm hộ tịch “Hộ tịch” là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống xã hội, từ trước đến nay, vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “Hộ tịch”.
Dưới góc độ ngôn ngữ, khái niệm “HT” được giải thích trong nhiều Từ điển Hán - Việt của nhiều tác giả khác nhau dưới đây là một số cách giải nghĩa: Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ điển:“HT: Quyển sổ của Chính phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người”. 22] Tác giả Nguyễn Văn Đạm trong cuốn Hán - Việt từ điển lại cho rằng: “HT: Sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” Tác giả Hoàng Thúc Trâm trong cuốn Hán - Việt tân từ điển viết “Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người”. 292] Tác giả Bửu Kế trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ nguyên giải thích “Hộ tịch: Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường - xã - thị trấn ”. 125] Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân chủ biên viết: "HT: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương”.
457] Như vậy, xét về góc độ ngôn ngữ nghĩa của từ "HT" còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, một số từ điển còn có sự nhầm lẫn cơ bản giữa HT và hộ khẩu. Điều đó đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm “HT” và “Hộ khẩu” trong nhận thức xã hội. 6 Thuật ngữ “HT” cũng là một khái niệm đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt. Khái niệm này không dễ định nghĩa nên có nhiều thảo luận trong giới học giả nhằm xác lập tên gọi dễ hiểu hơn.
Nhưng do trải qua một quá trình lịch sử, khái niệm này đã ăn sâu vào thói quen sử dụng cũng như quá trình soạn thảo, định nghĩa trong văn bản pháp lý. Tại Điều 1 Điều lệ đăng ký HT ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTG ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ quy định “Bản điều lệ này quy định những nguyên tắc và thủ tục đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về HT cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy”. Điều lệ đăng ký HT ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng Chính phủ năm 1961 cũng quy định “đăng ký HT là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh. Như vậy, Luật HT đã quy định cụ thể hơn về khái niệm HT so với Nghị định 158/2005/NĐ-CP.
Điều này là cần thiết bởi cần phải có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật. Từ quan niệm trên về HT, có thể thấy, HT có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, HT là một khái niệm mang tính giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân cụ thể từ sinh ra cho đến chết đi. Các yếu tố về cha mẹ, dân tộc hay giới tính là cơ sở để nhận biết, phân biệt từng cá nhân trong xã hội gắn với họ từ lúc sinh cho đến khi chết đi. Thứ hai, HT là những điều không thể thay thế hay chuyển đổi cho cá nhân khác, do đó mọi vấn đề liên quan đến HT phải do chính cá nhân đó trực tiếp đến các cơ quan chức năng thực hiện, không thể làm thay trừ khi pháp luật có quy định khác.
Thứ ba, HT là quyền, là nghĩa vụ mang tính nhân thân, không thể quy đổi thành giá trị như hàng hóa, có thể trao đổi, tặng cho, mua bán. Quản lý nhà nước về hộ tịch QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành, sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ở nước ta, nội dung này đã được Hiến định: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ”. Khi tham gia vào các quan hệ xã hội như quyền được kết hôn khi công dân đủ tuối theo quy định, quyền được giám hộ, quyền được thừa kế.đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình giúp Nhà nước nắm được tình hình biến động dân cư và sự biến động của xã hội, giúp Nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội và là cơ sở để hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Quyến con người trong công tác quản lý nhà nước về hộ tịch QCN, quyền công dân là giá trị cốt lõi của nhân loại, phải được bảo đảm ngày một tốt hơn, đây là tiêu chí cho cuộc chạy đua của tất cả các dân tộc, các chế độ xã hội. Một điểm rất mới trong Hiến pháp 2013 là đã không còn các quy định theo cách thức được Nhà nước thừa nhận các QCN, mà QCN ở đây được hưởng một cách mặc nhiên và Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo cũng như phải bảo vệ cho những quyền đó được thực hiện trên thực tế. Luật HT là đạo luật quan trọng liên quan đến việc bảo đảm thực hiện QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có văn bản ở tầm Luật để điều chỉnh riêng về lĩnh vực HT, sau nhiều năm điều chỉnh bằng các Nghị định của Chính phủ.
So với quy định pháp luật HT hiện hành, Luật HT có nhiều nội dung mới mang tính đột phá, cải cách mạnh mẽ công tác đăng ký, quản lý HT nói riêng và quản lý dân cư nói chung. có thể coi đây là cuộc “cách mạng” trong công tác đăng ký, quản lý HT nói riêng và quản lý dân cư nói chung, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác này theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới. 8 Pháp luật quản lý về HT ở nước ta hiện nay đã mở rộng dân chủ và tính công khai trong hoạt động QLNN về HT. Loại bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, đoạn tuyệt triệt để với những tàn dư của căn bệnh quan liêu, cửa quyền trong giải quyết các vấn đề HT của người dân; xây dựng các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho nhân dân.Thực hiện pháp luật quản lý về HT còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở chỗ, nó tạo cho mọi người dân những cơ hội ngang nhau trong việc thụ hưởng tốt nhất dịch vụ đăng ký HT trong một nền hành chính phục vụ.
Pháp luật quản lý về HT không chỉ thiết lập các nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý HT mà còn ấn định những cách thức, thủ tục để các cơ quan hành chính phục vụ quyền đăng ký HT của người dân, sẽ là biểu hiện cao độ của việc chăm lo chu đáo đến QCN, quyền lợi của người dân, sẽ loại trừ được những nhũng nhiễu mang tính ban phát, tiêu cực trong đăng ký HT hiện nay. Nội dung của quyền con người trong công tác quản lý nhà nước về hộ tịch 1. Quy định pháp luật về quyền khai sinh Quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân quan trọng của mỗi cá nhân được ghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên, và được nội luật hóa trong các văn bản pháp luật. Khai sinh là quyền cơ bản của công dân, Đăng ký khai sinh là sự ghi nhận về mặt pháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh ra, làm phát sinh các quyền nhân thân của con người, đồng thời cũng là cơ sở để Nhà nước quản lý thông tin, dữ liệu của công dân.
Giấy khai sinh là cơ sở pháp lý xác định các mối quan hệ của người được đăng ký khai sinh (quan hệ giữa cá nhân với một quốc gia - thông qua thông tin về quốc tịch; quan hệ gia đình - thông qua thông tin về cha, mẹ). Trên cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa công dân với Nhà nước, quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con cái. Giấy khai sinh cũng là văn bản pháp lý quan trọng để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác thông qua các thông tin cơ bản như: họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, nơi sinh, thông tin về cha mẹ… 9 Để tạo bảo đảm cho người dân thực hiện quyền khai sinh, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký khai sinh. Cụ thể: Thẩm quyền đăng ký khai sinh (Điều 13, Điều 49); Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh (Điều 14); Thủ tục đăng ký khai sinh (Điều 15, Điều 50); Khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi (Điều 16); Quy định về việc đăng ký khai sinh trong một số trường hợp đặc biệt (Điều 96).
Quy định pháp luật về quyền kết hôn Quyền kết hôn là một trong những quyền nhân thân của mỗi cá nhân được Hiến pháp ghi nhận, quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn. Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”. 33] Nhằm đảm bảo thực hiện quyền kết hôn của công dân theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình đã có những quy định cụ thể về đăng ký kết hôn (Điều 11), điều kiện kết hôn (Điều 9) và những trường hợp cấm kết hôn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.