CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VE BẢO DAM QUYEN CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THAM VỤ ÁN HÌNH SỰ 111 Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của bị cáo trong xét xử vụ án hình sự 1.11 Khái niệm, đặc điềm! bảo đâm quyén của bị cáo và vai trò của. Tòa án trong việc bão đâm quyên của bị cáo 1.111 Khải niềm Xã hội ngày cảng phát triển, van để “quyên” của mỗi cả nhân, tổ chức lại trở thành phạm tri trung tâm, là một trong các yếu tổ quan trong trong việc xây đựng, áp dụng pháp luật vào đời sóng xã hội. Dựa theo sự phát triển của xã hội, phạm vi các quyển của cá nhân ngày cảng mở rộng vả phát triển theo hướng đa dang hóa hơn. Tôn trọng các quyên của cá nhân và dm bao chúng được thực hiên la nguyên tắc quan trong của hoạt động tư pháp và cũng là nội dung quan trong của chính sách quản lí nhà nước, quản lí xã hồi trong giai đoạn hiện nay.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Quyển” có nghĩa là: “Điển mà pháp luật ode xã lôi công nhận cho được hưởng, được làm được đôi lỗi" “Dau hiệu đâu tiên va đặc trưng nhất của quyền 1a phải có sư ghi nhân vẻ mặt pháp lí và được bảo đầm thực hiện bai các quy định của pháp luệt, thứ hai 1 phải có sự thừa nhân vẻ mặt sã hội, gắn lién với chi thể cá nhân, được thể hiện trong thực tế đời sông thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một công đồng nhất định "3. Theo đó, quyên của cá nhân được phát Viên Nginngithoc G009), Train Ming Vi Nhớ Di Ning, 815 Inps/ter 125doc gidocznenzl$19430-guyh vi nghie va cor bi cụt rong tp-amghinh se. ¬ sinh, tăng thêm, giảm di hay biển mắt déu phụ thuộc vào quả trinh tén tại và phat triển của bản thân cũng như xã hôi. Đổi với cá nhân, các quyển cơ bản.
xuất hiện khi cá nhân sinh ra vá phát sinh thêm khi cá nhân phát tri lến một giai đoạn nhất định va tham gia những quan hệ xã hội, lĩnh vực hoạt động Quyên của cả nhân chỉ bi tước bô hoặc han chế khi cá nhân đó phạm tội bởi pháp luật va chấm dút khi người đó chết. Quyển luôn phải gin với nghĩa va và phải chiu tác động trong pham wi giới han cia pháp luật hay vùng lãnh thé nhất định. Ở Việt Nam, quyền của công dan được cu thé hoa va thể chế hóa tại Hiển pháp và các điều luật. Theo đỏ, công dân có các loại quyển như quyển con người, quyển được sống, quyển tư do, quyển mưu cấu hạnh phúc, các quyền về chính trị như quyển bau cử, img cit, quyển được tham gia quan lí nhà nước, quân lí zã hội, .; các quyền vẻ kinh tế văn hóa, 28 hôi, quyền bình.
đẳng nam nữ, quyền được Nha nước bão hộ về hôn nhân, gia đính; các quyền. về tư do dân chủ và tự do cá nhân như quyền tự do ngôn luân, tự do báo chí, quyền bắt khả sâm phạm vé thân thể, quyền được pháp luật bao hô về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Những quyển nảy được áp dung với toán bô công dân nước Công hòa xã hội chủ ngiấa Việt Nam, tức là những người có quốc tich Việt Nam (kế cả những công dân Việt Nam đính cu ở nước ngoài), tuy nhiên khi tham gia vào các hoạt đông đặc biệt như hoạt đông xét xử thi công đân với tư cách lả người tham gia tổ tụng sé có các quyền như: quyền được tham gia phiên tòa, quyên tự bảo chữa hoặc nhờ người bảo chữa (néu là bị cao), quyển kháng cáo, Từ các nhận định trên ta có thể định nghia: “Quyén ia khái niém khoa ọc pháp li đễ chỉ những điều mà pháp luật và xã lội công nhãn và đâm bảo cho mỗi t6 chức, cá nhân được hưởng được làm được đồi lỗi mà không at được phép ngăn cản, han chỗ Nếu đã nhắc đến “quyền” thi phải nói đến việc "bão đăm quyển". Theo từ điển Tiếng Việt, khải niệm “bao đảm” được hiểu la: “Lam cho chắc chắn thực hiện được, gift gin được hoặc có aay đủ những gì cần thiét’* Khái niêm. ‘bdo dim quyền trong khoa hoc pháp lý được hiểu là “Tục hiện các điền kiên khách quan các phương tiên (công cu) 18 chức và các phương thite khác không chỉ là nhằm me dich công bỗ, ght nhận về mặt pháp if các quyền đó ma còn nhằm mục đích bảo vệ chúng một cách toàn điện và chắc chắn rằng.
các quyền đó sẽ được thực thi trong cuộc sống”. Ý kiến khác lại cho ring “Báo đâm quyén là hoạt động cũa Nhà nước, các cơ quan cá nhân tổ chute cá nhân trong việc xdy dung và thực hiện pháp luật. nhằm thiết lập, triển khai déy đủ các quyền trên cơ sở những dam bảo clung về quyền của mỗi con người "5 Theo bộ luật TTHS 2015 quy định: “BY cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết din đưa ra xét xứ Š. Trên thực tế, bi cáo lé tên gọi của người bi buộc tôi trong giai đoạn xét xử một vụ án hình sự, sau khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử: Một vụ án hình sự sau khi CQĐT đã kết thúc việc điều tra va thấy rằng đã có đủ chứng cứ chứng minh việc phạm tôi thi sẽ chuyển hô sơ, để nghị VKS truy tô.
ra trước Tòa án Thẩm phản được phân công sau khi nhận hé sơ vả nhận thay đã đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử, không can tra hỗ sơ cho VKS để điều tra bỗ sung hay không có căn cứ để định chỉ (tam đính chi) vụ an thi sé ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Kể từ thời điểm này, bị can trở thảnh bị cáo. 'Việc dim bão quyén của bị cáo trong giai đoạn xét xử cũng bat đầu từ chính Túc nay. Ả Nguễn Nae Ý,Đạitừ đến Ting Việt (199) 20 Văn hóa Thống th, m1 SLE Meù Thing C012), áo đâm qui ie ng cue hn rn mừng TTS ö Fit Na, Bọc ‘iin Catt Hi ch móc ga Hồ Chi Mint 48 "pin 1 Dil Bộ hye To amg s 2015 10 ‘Tham gia vào quan hệ TTHS, pháp luật quy định bi cáo có các quyền va nghĩa vụ cơ bản, được thể hiện trước hết trong Hiển pháp, Bộ luật Hình sự, Bö luật THHS, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật chức Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh về Thẩm phán và Héi thẩm nhân dân. Quyén của bt cáo là những nin cẩu và lợi ich hợp pháp vốn cỏ cũa bt cáo kit tham gia vào quan lê pháp luật TTHS trong giai đoạn xét vie phh hợp với pháp luật quắc gia, chuẩn mực quốc tế và duoc ghi nhận trong Hiển pháp và các văn bản ny phạm pháp luật có liên quan Tổ tụng hình sự là một quá trinh, trong đó quyển của người bi buộc tôi tất dé bị hạn chế, ảnh hưỡng béi những hành vi, hoạt đông và quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiền hành tổ tụng.
Đặc biệt, đối với quyền lợi của bị cáo thì những quyết định, biên pháp cưỡng chế đối với ho thường mang tinh nghiêm khắc nên rất dé xảy ra nguy cơ bị xêm phạm và chiu những hậu quả nghiêm trọng bởi những sai sót, vi phạm pháp luật do người có thẩm quyền. gây nên Bị cáo tham gia quả tỉnh TTHS nhưng không đồng nghĩa là tội pham mà mới chỉ bị tình nghỉ là người đã thực hiện hành vi phạm tôi. Với tư cách này, bị cáo vẫn phải được dm bão quyển lợi của minh trong suốt qua trình t tụng diễn ra. Thực hiên việc bão đảm quyển của bị cáo nghĩa là tao điều kiện để bi cáo có thể thực hiện được các quyển của minh trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Chủ thể của hoạt động bảo dim nảy là Tòa án- cơ quan trực.
tiếp tiền hành hoạt động xét xữ. Thời han bao đầm được tính từ khi Thẩm. phán- chủ tọa phiên tòa được phân công xử lý vụ án ra quyết định xét xử cho én khi kết thúc phiên tòa “Xet xử sơ thẩm vụ án hình sự la xét xử lân đầu do Tòa án có thẩm. quyền thay mặt Nha nước tiên hành việc xét xử vu án hình sự một cách toàn điền, trên cơ sỡ bản cáo trang của VKS, xem xét, đánh giá chứng cứ va dựa " vảo kết quả tranh tụng tai phiên tòa lam cơ sở để ra các phán quyết công.
mình, có căn cử và đúng pháp luật bằng bản án va quyết định của minh”? Từ các phân tích trên có thể “Bảo đâm quyén của bị cáo là những hoạt đông cụ thé của Tòa dn để các quyền của bi cáo trong giai đoạn xét xứ sơ thẩm được thực liện đây đĩ mà không chỉ mang tỉnh hình thúc 1112 Đặc đễm Bao dam quyển của bi cáo trong hoạt động tổ tụng nói chung vả trong hoạt động xét zử sơ thấm vu án hình sự nói riêng luôn được đết ra như một yên câu và nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Dựa trên việc nghiên cửu pháp luật TTHS Viet Nam cũng như số liệu trên thực té, tác giã rút ra một số đặc trưng hoạt động bao đảm quyền của bị cáo ở nước ta như sau: Bao đầm quyên của bị cáo trong xét xử vụ ánhình sự là một phân của việc bảo dim quyển lợi hợp pháp của công dân trong quá trình TTHS. Ban chất của Nha nước ta là Nha nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân va vi nhân dân, do đó việc tôn trong và bảo đầm các quyển va lợi ích hop pháp của công ân nói chung và của bị cáo nói riêng vẫn luôn được coi lả một nhiệm vụ quan trọng, Khi bi cáo tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS thi sẽ xuất hiện nhụ câu cin được bao vệ vả bao đâm cho các quyên của minh được thực hiện Xet về bản chất, phương pháp điêu chỉnh của ngành luật TTHS lả phương pháp quyển uy để tác động lên mỗi quan hệ giữa cơ quan tó tung, người tiền hanh tổ tung với người tham gia tổ tung (6 day là bi cáo). Trong quan hệ này không hé có sự công bằng giữa hai bên bởi bị cáo luôn phải phục tùng các quyết định của cơ quan hay người tiến hành tổ tung.
Nói cách khác, để đâm bảo. nhiệm vụ đầu tranh, phòng chồng tôi pham, giữ gìn trét tự an toàn xã hồi thì Nha nước phải sử dụng một sổ biện pháp hạn chế một số quyền của bị cáo.