Tổng quan nghiên cứu

Kể từ khi Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản này đã trở thành nhiệm vụ chiến lược cấp bách. Vùng không gian văn hóa Quan họ trải rộng trên diện tích khoảng 250 km2 với 49 làng Quan họ gốc (gồm 44 làng tại Bắc Ninh và 5 làng tại Bắc Giang) cùng hệ thống 329 câu lạc bộ thực hành nghệ thuật đang hoạt động sôi nổi. Tuy nhiên, trước sức ép của nền kinh tế thị trường và làn sóng đô thị hóa mạnh mẽ, di sản Quan họ đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng, biến dạng làn điệu cổ và thiếu hụt thế hệ kế cận khi nhiều nghệ nhân cao tuổi qua đời.

Nghiên cứu này tập trung phân tích vai trò, đánh giá thực trạng hoạt động thông tin tuyên truyền của các cơ quan báo chí địa phương đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể. Phạm vi khảo sát được thực hiện chuyên sâu tại Báo Bắc Ninh và Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh trong giai đoạn 2 năm, từ tháng 1 năm 2015 đến hết tháng 12 năm 2016. Luận văn mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm cùng các giải pháp khả thi, nhằm nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí, định hướng dư luận xã hội và thúc đẩy sự tham gia đồng bộ của hệ thống chính trị cùng cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ di sản dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa nghệ thuật, kết hợp quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời, luận văn căn cứ vào khung pháp lý quy định tại Luật Báo chí năm 2016 (Điều 3) và Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 (Điều 6) để xác định các chức năng cốt lõi của báo chí gồm: tuyên truyền đường lối chính sách, định hướng tư tưởng thẩm mỹ, giáo dục truyền thống và thực hiện phản biện xã hội.

Khung lý thuyết bảo tồn di sản được triển khai dựa trên hai trục chính: bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn tĩnh) thông qua việc sưu tầm, ghi âm, ký âm, số hóa tư liệu hóa và bảo tồn kế thừa (bảo tồn động) thông qua việc duy trì không gian thực hành sống động trong cộng đồng. Bốn khái niệm trọng tâm được làm sáng tỏ gồm:

  • Dân ca Quan họ: Loại hình nghệ thuật dân gian tổng hòa âm nhạc, lời ca, trang phục và lễ hội với lối hát đối đáp giao duyên mộc mạc, gắn liền với tục kết chạ giữa 36 làng truyền thống.
  • Nghệ nhân Quan họ: Những báu vật nhân văn sống nắm giữ kỹ năng ca hát điêu luyện theo chuẩn mực "vang, rền, nền, nẩy" và trực tiếp trao truyền di sản.
  • Bảo tồn di sản: Hoạt động gìn giữ cấu trúc nguyên bản của 213 làn điệu, không để biến dạng hay thương mại hóa sai lệch.
  • Phát huy giá trị di sản: Việc đưa các giá trị tinh hoa vào đời sống đương đại, gắn liền với phát triển du lịch bền vững và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua khảo sát toàn diện 520 số Báo Bắc Ninh xuất bản (từ số 3452 đến số 3971) cùng toàn bộ các chương trình phát thanh, truyền hình chuyên đề phát sóng trong khung thời gian 24 tháng từ năm 2015 đến hết năm 2016.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi trên cỡ mẫu 400 người, bao gồm công chúng tiếp nhận thông tin, các nhà báo, biên tập viên và cán bộ quản lý văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện về độ tuổi, nghề nghiệp và mức độ quan tâm đến nghệ thuật dân gian.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích nội dung (content analysis) kết hợp thống kê mô tả là nhằm lượng hóa chính xác dung lượng, tần suất xuất hiện, cơ cấu thể loại của các tác phẩm báo chí, từ đó đối chiếu trực tiếp với kết quả đo lường mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin của 400 đối tượng khảo sát thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tần suất đưa tin trên báo in và sóng phát thanh - truyền hình có sự phân bổ không đồng đều và mang tính mùa vụ rõ nét. Trong tổng số 520 kỳ Báo Bắc Ninh giai đoạn 2015-2016, lượng tin bài tập trung đột biến vào quý 1 hàng năm, chiếm tới hơn 65% tổng số lượng bài viết của cả năm, trùng với dịp diễn ra Hội Lim và lễ hội xuân tại 44 làng Quan họ gốc.

Thứ hai, cơ cấu thể loại báo chí bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng. Tin tức thời sự ngắn và bài phản ánh sự kiện đơn thuần chiếm hơn 70% tổng số tác phẩm được đăng tải, trong khi các thể loại có chiều sâu như phóng sự điều tra, bài bình luận chuyên đề hay bài nghiên cứu bảo tồn chỉ chiếm chưa đầy 15% tổng thời lượng phát sóng của Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh.

Thứ ba, nội dung thông tin chưa phản ánh trọn vẹn diện mạo của kho tàng âm nhạc cổ truyền. Trong số 213 làn điệu Quan họ hiện có, các chương trình phát thanh và truyền hình chỉ phát sóng lặp đi lặp lại khoảng 30 làn điệu thuộc hệ thống giọng vặt phổ biến (chiếm gần 80% thời lượng âm nhạc), trong khi 8 bài giọng lề lối cổ xưa và các điệu hát phức tạp như Hừ la hầu như không xuất hiện trên sóng.

Thứ tư, kết quả điều tra xã hội học từ 400 phiếu khảo sát chỉ ra rằng: 72% công chúng ghi nhận tác động tích cực của báo chí trong việc khơi dậy niềm tự hào quê hương, nhưng có tới 58% ý kiến cho rằng các bài viết còn mang tính một chiều, thiếu tính định hướng chuyên môn và chưa thẳng thắn đấu tranh với tình trạng Quan họ biến tướng, ngả nón xin tiền tại các điểm hội hè.

Thảo luận kết quả

Các số liệu khảo sát phản ánh thực trạng báo chí địa phương chủ yếu tuyên truyền theo sự vụ, bị động chờ đợi kế hoạch từ các ban ngành thay vì chủ động định hướng đề tài dài hơi. Nếu biểu diễn dữ liệu qua biểu đồ cơ cấu thể loại và bảng so sánh thời lượng phát sóng theo từng tháng, sự chênh lệch lớn giữa các tháng đầu năm và giai đoạn còn lại sẽ bộc lộ rất rõ ràng.

Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc đội ngũ phóng viên, biên tập viên còn thiếu kiến thức chuyên sâu về âm nhạc dân gian và lịch sử 49 làng Quan họ. Khi so sánh với các tài liệu nghiên cứu của Đặng Văn Lung năm 1978 hay Hồng Thao năm 2010, báo chí hiện nay chưa làm tốt chức năng phục dựng không gian sinh hoạt văn hóa nguyên bản. Việc lạm dụng nhạc cụ điện tử trong các tiết mục phát sóng đã vô tình làm mất đi vẻ mộc mạc, phá vỡ tính chuẩn mực của lề lối hát đối đáp không nhạc đệm vốn là linh hồn của di sản Quan họ.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tái cấu trúc khung chương trình và xây dựng chuyên mục định kỳ: Ban Biên tập Báo Bắc Ninh và Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh cần thiết lập chuyên trang, chuyên mục cố định về di sản, cam kết nâng tỷ trọng thời lượng phát sóng chuyên đề lên mức tối thiểu 20% trong khung giờ vàng, duy trì đều đặn 2 số mỗi tuần trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020.
  • Nâng cao trình độ nghiệp vụ và vốn hiểu biết văn hóa cho người làm báo: Hội Nhà báo tỉnh Bắc Ninh chủ trì phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức các khóa tập huấn bắt buộc cho 100% phóng viên mảng văn hóa - xã hội, định kỳ 2 khóa mỗi năm, với sự tham gia hướng dẫn trực tiếp từ các nghệ nhân gạo cội tại 44 làng Quan họ gốc.
  • Đẩy mạnh số hóa và hiện đại hóa hình thức chuyển tải thông tin: Báo Bắc Ninh phát triển các tuyến bài đa phương tiện (Mega story, Infographic, Podcast), phối hợp cùng Nhà hát Quan họ số hóa toàn diện 213 làn điệu cổ và hơn 400 bài ca sưu tầm, hoàn thành việc xây dựng kho tư liệu âm thanh số phục vụ công chúng trẻ trong vòng 18 tháng.
  • Tăng cường chức năng phản biện xã hội và giám sát quản lý lễ hội: Các cơ quan báo chí địa phương chủ động thiết lập đường dây nóng phối hợp với chính quyền 24 xã có làng Quan họ, tăng tối thiểu 30% các bài viết điều tra, phê phán quyết liệt các biểu hiện thương mại hóa, biến dạng di sản, bảo đảm môi trường thực hành văn hóa lành mạnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Tiếp cận các luận cứ khoa học và bộ số liệu khảo sát từ 400 đối tượng thực tế để xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ thiết thực cho 329 câu lạc bộ Quan họ và cộng đồng nghệ nhân.
  • Lãnh đạo, ban biên tập và phóng viên các cơ quan báo chí: Sử dụng tài liệu như một cẩm nang nghiệp vụ nhằm khắc phục tính mùa vụ trong 520 kỳ xuất bản, nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí viết về đề tài văn hóa nghệ thuật dân gian.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông: Khảo cứu mô hình kết hợp giữa lý luận báo chí học với phương pháp điều tra xã hội học định lượng trong việc đánh giá tác động truyền thông đối với di sản văn hóa phi vật thể.
  • Nghệ nhân, nhà nghiên cứu văn hóa và các câu lạc bộ Quan họ: Nắm bắt nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng hiện đại để chủ động hợp tác với các cơ quan truyền thông trong việc bảo tồn trọn vẹn 213 làn điệu truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

  • Luận văn đã tiến hành khảo sát nguồn dữ liệu báo chí với quy mô như thế nào? Luận văn đã tiến hành khảo sát toàn diện 520 số báo in của Báo Bắc Ninh (từ số 3452 đến số 3971) cùng toàn bộ hệ thống chương trình phát thanh và truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình Bắc Ninh trong suốt giai đoạn 2 năm (2015-2016), bảo đảm tính xác thực và đại diện cao.

  • Điểm khác biệt then chốt giữa bảo tồn "tĩnh" và bảo tồn "động" trong đề tài là gì? Bảo tồn "tĩnh" tập trung vào việc ghi âm, ký âm, tư liệu hóa và lưu trữ nguyên bản 213 làn điệu trong sách báo và bảo tàng số. Trong khi đó, bảo tồn "động" chú trọng nuôi dưỡng sức sống di sản qua hoạt động truyền dạy của nghệ nhân và tổ chức hát canh tại 44 làng gốc.

  • Báo chí Bắc Ninh giai đoạn 2015-2016 bộc lộ hạn chế lớn nhất nào? Hạn chế lớn nhất là tính thụ động và sự mất cân đối theo mùa vụ, khi hơn 65% tin bài chỉ tập trung vào lễ hội đầu năm. Các thể loại chuyên luận sâu sắc chỉ chiếm dưới 15%, đồng thời báo chí chưa đấu tranh triệt để với các hiện tượng tiêu cực như ngả nón xin tiền.

  • Vì sao trình độ chuyên môn của nhà báo lại giữ vai trò quyết định trong việc bảo tồn Quan họ? Dân ca Quan họ chứa đựng nhiều lề lối nghiêm ngặt và kỹ thuật thanh nhạc đặc thù như vang, rền, nền, nẩy cùng 8 bài giọng lề lối rất khó thể hiện. Nếu phóng viên thiếu kiến thức chuyên sâu sẽ dễ tuyên truyền sai lệch bản chất và không thể phát hiện các yếu tố lai căng âm nhạc.

  • Ý nghĩa thực tiễn của cuộc điều tra 400 phiếu khảo sát xã hội học là gì? Bộ dữ liệu từ 400 phiếu khảo sát cung cấp bằng chứng khách quan về thị hiếu người dân, cho thấy 58% độc giả chưa hài lòng với chiều sâu thông tin. Điều này giúp các cơ quan báo chí nhận diện chính xác khoảng cách giữa công tác tuyên truyền và nhu cầu thực tế của xã hội.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc cơ sở lý luận về vai trò định hướng tư tưởng và giáo dục truyền thống của báo chí địa phương đối với việc bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể theo tiêu chuẩn UNESCO.
  • Khảo sát thực chứng 520 số Báo Bắc Ninh và hệ thống phát thanh - truyền hình trong 2 năm 2015-2016, chỉ ra bức tranh chân thực về thực trạng thông tin di sản.
  • Thu thập và phân tích định lượng thành công dữ liệu từ 400 phiếu khảo sát xã hội học, lượng hóa chính xác mức độ quan tâm cùng sự hài lòng của công chúng.
  • Nhận diện trực diện các điểm nghẽn lớn trong công tác thông tin, đặc biệt là tình trạng truyền thông theo mùa vụ và sự lãng quên các làn điệu cổ truyền quý hiếm.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá và khả thi cao dành cho các cơ quan thông tấn và ban ngành quản lý văn hóa trong giai đoạn tiếp theo.

Công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Hiền đóng góp nguồn tư liệu học thuật giá trị, thiết lập cầu nối vững chắc giữa lý luận báo chí học và thực tiễn bảo tồn văn hóa dân tộc. Hãy khai thác ngay các phát hiện và khuyến nghị từ luận văn này để xây dựng chiến lược truyền thông di sản hiệu quả, góp phần đưa Dân ca Quan họ Bắc Ninh trường tồn và lan tỏa mạnh mẽ trong dòng chảy văn hóa nhân loại.