Tài liệu: Bào chế và đánh giá một số tác dụng của gel mật ong trong hỗ trợ

Nghiên cứu bào chế gel mật ong và đánh giá hiệu quả hỗ trợ làm lành vết thương, ứng dụng trong chăm sóc da an toàn từ thiên nhiên.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nộ, Khoa Y Dược

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2018

51
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Bào chế Gel Mật Ong

Bào chế gel mật ong là quá trình xử lý mật ong tự nhiên để tạo thành một dạng bào chế hiện đại, dễ sử dụng trong chăm sóc vết thương. Mật ong chứa nhiều thành phần hoạt tính như hydrogen peroxide, lysozyme và các polyphenol có tác dụng kháng khuẩn mạnh. Việc chuyển mật ong thành dạng gel giúp cải thiện độ ổn định, tăng khả năng hấp thụ và mang lại hiệu quả điều trị vết thương tối ưu. Công nghệ bào chế này kết hợp mật ong với các chất tá dược như carbopol 940chitosan, tạo nên một sản phẩm dược phẩm chất lượng cao có thể ứng dụng rộng rãi trong y tế.

1.1. Khái niệm và Ý Nghĩa của Bào Chế Gel

Gel là một dạng bào chế bán rắn, có cấu trúc đặc biệt gồm polyme và chất lỏng. Bào chế gel mật ong là quá trình kết hợp mật ong nguyên chất với các chất tá dược để tạo độ nhớt phù hợp. Dạng bào chế này giúp giữ độ ẩm cho vết thương, tạo điều kiện chữa lành tối ưu và dễ sử dụng trong thực hành lâm sàng.

1.2. Ứng Dụng trong Điều Trị Vết Thương Hở

Gel mật ong có tác dụng hỗ trợ chăm sóc vết thương hở hiệu quả nhờ các thành phần kháng khuẩn tự nhiên. Sản phẩm giúp tạo môi trường ẩm lý tưởng, kích thích quá trình tái tạo môngăn chặn nhiễm khuẩn. Điều này làm cho gel mật ong trở thành một giải pháp hỗ trợ điều trị vết thương an toàn và hiệu quả.

II. Thành Phần Hoạt Tính và Tác Dụng Sinh Học

Mật ong là hỗn hợp tự nhiên phức tạp chứa hơn 180 chất có lợi cho sức khỏe. Các thành phần chính bao gồm glucose, fructose, water, enzym (như amylase, invertase), axit, polyphenol và các chất sắc tố. Tác dụng sinh học của mật ong được xem là rất quý báu trong điều trị vết thương, đặc biệt là khả năng kháng khuẩnchống oxy hóa. Hydrogen peroxide tạo ra từ các enzym trong mật ong giúp tiêu diệt vi khuẩn, trong khi các chất chống oxy hóa như flavonoid và phenol bảo vệ mô tế bào khỏi tổn thương. Các thành phần này hoạt động synergistic, tạo nên một tác dụng phương đông độc đáo của mật ong trong hỗ trợ chữa lành vết thương.

2.1. Các Chất Hoạt Tính Chính trong Mật Ong

Mật ong chứa hydrogen peroxide, lysozyme, flavonoid, axit ascorbic và nhiều chất chống oxy hóa. Hydrogen peroxide được tạo ra bởi enzyme glucose oxidase, có khả năng kháng khuẩn mạnh. Lysozyme là một enzyme tự nhiên giúp tiêu diệt tường tế bào vi khuẩn. Các chất chống oxy hóa như flavonoid bảo vệ tế bào khỏi stress oxy hóatổn thương tự do radical.

2.2. Cơ Chế Tác Dụng trong Hồi Phục Vết Thương

Mật ong hỗ trợ chữa lành vết thương qua nhiều cơ chế. Độ ẩm cao của mật ong tạo môi trường ẩm giúp tế bào tái tạo nhanh hơn. Tác dụng kháng khuẩn ngăn chặn nhiễm trùng, trong khi tác dụng chống oxy hóa bảo vệ tế bào mới khỏi tổn thương. Đồng thời, mật ong kích thích quá trình viêm tích cực cần thiết cho quá trình chữa lành.

III. Phương Pháp Bào Chế Gel Mật Ong 60

Bào chế gel mật ong 60% là quy trình công nghệ cao để tạo sản phẩm dược phẩm chất lượng. Quá trình bào chế sử dụng mật ong nguyên chất kết hợp với các chất tá dược như carbopol 940 hoặc chitosan để tạo độ nhớt ổn định. Quy trình gồm các bước: chuẩn bị nguyên liệu, hòa tan chất tá dược, khuếch tán mật ong, điều chỉnh pH và độ nhớt, sau đó đóng gói và bảo quản. Nồng độ mật ong 60% được chọn vì nó cân bằng tốt giữa hiệu quả tác dụngkhả năng tạo dạng bào chế ổn định. Việc lựa chọn chất tá dược phù hợp rất quan trọng để đảm bảo ổn định hóa học, ổn định vật lýtính an toàn của sản phẩm cuối cùng.

3.1. Các Chất Tá Dược Sử Dụng trong Bào Chế

Carbopol 940 là polymer tổng hợp tạo gel hiệu quả, tăng độ nhớt và ổn định hóa học cao. Chitosan là polysaccharide tự nhiên từ vỏ tôm, có tính kháng khuẩn bổ sung và tương thích sinh học tốt. Cả hai chất tá dược đều giúp tạo cấu trúc gel ổn định, giữ hình dạngcải thiện khả năng sử dụng của sản phẩm.

3.2. Quy Trình Bào Chế và Kiểm Soát Chất Lượng

Quy trình bào chế bao gồm: chuẩn bị nguyên liệu sạch, hòa tan polyme trong nước cất, thêm mật ong từng chút, khuấy đều, điều chỉnh pH bằng triethanolamin, tinh chỉnh độ nhớt phù hợp. Kiểm soát chất lượng kiểm tra độ nhớt, tính chất vật lý, hoạt tính kháng khuẩnkhả năng chống oxy hóa của sản phẩm.

IV. Đánh Giá Tác Dụng Kháng Khuẩn và Chống Oxy Hóa

Đánh giá tác dụng kháng khuẩn của gel mật ong 60% được thực hiện in vitro bằng phương pháp khuếch tán trên agar với các vi khuẩn Gram dương và Gram âm. Kết quả cho thấy gel mật onghoạt tính kháng khuẩn đáng kể đối với các vi khuẩn gây nhiễm trùng vết thương như Staphylococcus aureus, Escherichia coli và Shigella flexneri. Đánh giá khả năng chống oxy hóa sử dụng phương pháp DPPH radical scavenging cho thấy gel mật ongkhả năng trung hòa tự do radical tương đương với những chất chống oxy hóa mạnh. Các kết quả này chứng minh rằng bào chế gel mật ong 60% không chỉ bảo tồn các tác dụng sinh học của mật ong mà còn tạo ra sản phẩm ổn định, dễ sử dụng trong hỗ trợ chăm sóc và chữa lành vết thương.

4.1. Kết Quả Thử Nghiệm Kháng Khuẩn In Vitro

Thử nghiệm kháng khuẩn sử dụng phương pháp đĩa khuếch tán trên các chủng vi khuẩn mô phỏng lâm sàng. Gel mật ong 60% tạo vòng vô khuẩn rõ ràng xung quanh đĩa thử, chứng minh hoạt tính kháng khuẩn. So với kháng sinh chứng, gel mật ong cho hiệu quả tương đương hoặc cao hơn với một số chủng vi khuẩn, nhất là Gram dương.

4.2. Kết Quả Đánh Giá Khả Năng Chống Oxy Hóa

Phương pháp DPPH được sử dụng để đánh giá khả năng chống oxy hóa của gel mật ong 60%. Gel mật ong với chất tá dược carbopol 940chitosan đều có khả năng trung hòa tự do radical DPPH mạnh. Tỷ lệ ức chế DPPH của gel mật ong tăng theo nồng độ, chứng minh tác dụng chống oxy hóa dose-dependent.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Thuốc điều trị vết thương hở 1. Giới thiệu chung về vết thương Vết thương xảy ra nhiều lần trong cuộc sống, kèm theo sự chảy máu. Do đó, việc chữa lành vết thương là cần thiết để tránh chảy máu và mất nước từ các mạch và mô.

Các cơ quan có thể bị thương do các tác động bên ngoài (vật lý, hoá học) hay rối loạn nội bộ (bệnh). Vết thương có thể đơn giản hoặc phức tạp, vô trùng hoặc nhiễm trùng, cấp tính hoặc mạn tính [41]. Các vết thương mạn tính liên quan đến khả năng tự phục hồi của bệnh nhân, nguyên nhân gây bệnh như các bệnh nhiễm trùng mạn tính hoặc rối loạn chuyển hoá. Các rối loạn chuyển hoá như tiểu đường có thể dẫn đến nhiễm trùng, những biến chứng phức tạp và làm các vết thương lâu hồi phục [37].

Có rất nhiều lý do như nghèo đói, vệ sinh kém, suy dinh dưỡng, côn trùng và ô nhiễm môi trường có thể gây ra các vết thương và làm trầm trọng thêm hậu quả của vết thương [23]. Chữa lành vết thương là một quá trình phức tạp liên quan đến nhiều loại tế bào chuyên biệt, chúng hoạt động tương tác với nhau dưới sự điều khiển của các phân tử do chúng ta tiết ra. Quá trình phức tạp này diễn ra theo các giai đoạn và có sự trùng lặp lẫn nhau [25]. Quá trình liền vết thương trải qua 4 giai đoạn cơ bản: giai đoạn cầm máu, giai đoạn viêm, giai đoạn tăng sinh và giai đoạn tái tạo [17].

Điều trị vết thương hở là quá trình khôi phục lại tình trạng lành mạnh của bất kì chấn thương nào gây ra gián đoạn trong sự liên tục của bề mặt bên ngoài cơ thể. Quá trình này phục hồi nguyên vẹn các mô bị tổn thương bằng cách thay thế mô chết bằng các mô mới. Việc này bắt đầu ngay sau khi bị thương, có thể tiếp tục trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, và về cơ bản là giống nhau đối với tất cả các loại vết thương. Việc sửa chữa các tế bào bị tổn thương và mô diễn ra trong quá trình tái tạo.

Trong đó, các cấu trúc được thay thế bởi sự gia tăng các tế bào tương tự, như xảy ra với da và xương; và bằng cách hình thành sẹo, bao gồm các cấu trúc sợi với một số mức độ co lại. Vì hầu hết các vết thương liên quan đến nhiều mô, sự hồi phục hoàn toàn là không thể. Do đó, sự hình thành sẹo là một kết quả của việc chữa lành vết thương [15]. Các thuốc được sử dụng trong điều trị vết thương hở Các yêu cầu của một thuốc bôi vết thương hở tốt bao gồm: Có tác dụng với các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn vết thương với tỷ lệ kháng thuốc thấp nhất, không hoặc ít gây hại cho mô lành và tế bào lành, không hoặc ít có tác dụng phụ, thấm sâu vào các mô [12].

Dưới đây là một số thuốc bôi vết thương hở được sử dụng phổ biến hiện nay:  Oxi già Oxi già là dung dịch màu trong suốt, có tác dụng oxi hóa khá mạnh. Ở nồng độ lớn hơn 3% dung dịch oxi già có thể gây bỏng. Oxi già thông thường dùng để sát khuẩn vết thương mới, có mủ, vết thương có hiện tượng nhiễm trùng và đặc biệt là các vết thương có dị vật. Dung dịch oxy già không được sử dụng cho vết thương đang lành vì nó có thể làm tổn thương mô mới.

Khi sử dụng oxi già có hiện tượng sủi bọt, làm sạch mô chết và loại trừ mủ, đẩy dị vật ra ngoài [46].  Cồn i-ốt Cồn i-ốt là dung dịch có khả năng sát khuẩn mạnh nhờ khả năng sát khuẩn của i-ốt (cồn chỉ có tác dụng hòa tan i-ốt). Dung dịch này không những có khả năng sát trùng, nó còn có khả năng phá hủy chất hữu cơ (da), gây nhiễm độc i-ốt nếu dùng lâu, đặc biệt là với trẻ em. Vì vậy không nên dùng cồn i-ốt với những vết thương sâu, vùng da nhạy cảm, với trẻ nhỏ [43].

 Thuốc đỏ Thuốc đỏ có khả năng làm khô, chống lở loét vết thương. Tuy nhiên dung dịch này không tốt vì nó có chứa thủy ngân. Vậy nên dung dịch này chỉ nên dùng với vết thương nhỏ, không gần mạch máu vì thủy ngân nếu ngấm vào máu có thể gây chết người [22].thuong  Thuốc tím Thuốc tím được pha loãng trước khi bôi lên vết thương. Dung dịch này dùng để thấm dịch và tiêu diệt một số vi khuẩn, sát trùng vết thương.

Tuy nhiên một số vi khuẩn dung dịch này không tiêu diệt được [8].  Bạc sulfadiazine 1% Bạc sulfadiazine là sự kết hợp của bạc với một sulfamide. Nhiều phối hợp của bạc với các sulfamide khác nhau đã được nghiên cứu thử nghiệm in vitro, kết quả cho thấy bạc sulfadiazin cho tác dụng tốt nhất. Điều này có thể được giải thích là do sự liên kết mạnh của bạc sulfadiazin với DNA của vi sinh vật.

Thuốc có phổ kháng khuẩn rộng, tiêu diệt được nhiều loại vi sinh vật như S. aeruginosa, Proteus, Enterobacteraceae và cả C. Bạc sulfadiazine có thể gây giảm bạch cầu. Tác dụng phụ này gặp ở 5 - 15% bệnh nhân, thường xảy ra khi sử dụng trên diện tích rộng, 2 - 3 ngày sau khi bắt đầu dùng thuốc.

Bạc sulfadiazine được sản xuất từ năm 1960, dưới dạng kem nồng độ 1% màu trắng không tan trong nước, ít thấm sâu vào hoại tử, khó vệ sinh vết thương, thời gian tác dụng ngắn. Sản phẩm có thể làm giảm khả năng tái tạo biểu mô còn độc tính đối với tủy xương chủ yếu là do propylen glycol có trong dạng thuốc gây nên. Sự đề kháng của vi khuẩn trên dòng sản phẩm này cũng đã được ghi nhận [2].  Madecassol oil Đây là dạng thuốc mỡ được bào chế từ dịch chiết của cây rau má (Centella asiatica).

Ngoài ra, sản phẩm này còn chứa kháng sinh neomycin và chất kháng viêm hydrocortisol. Madecassol oil được sản xuất từ năm 1970, dùng để bôi lên vết thương hở nhằm tránh nhiễm khuẩn, tăng cường khả năng hồi phục vết thương, hạn chế để lại sẹo. Sản phẩm này không dùng cho những vết thương bị nhiễm thứ cấp hoặc các bệnh nhân nhạy cảm với neomycin và hydrocortisol [45]. Tổng quan về mật ong và tác dụng của mật ong trong điều trị vết thương hở 1.

Giới thiệu chung về mật ong Mật ong là chất lỏng đặc sánh, hơi trong và dính nhớt, màu vàng nhạt hoặc vàng cam đến nâu hơi vàng. Khi để lâu hoặc để lạnh sẽ có những tinh thể dạng hạt dần dần tách ra. Mùi thơm, vị rất ngọt [10]. Mật ong là một dung dịch bão hòa có nguồn gốc từ ong bao gồm chủ yếu là fructose và glucose.

Ngoài ra, mật ong còn chứa các protein, các axit amin, vitamin, enzym, khoáng chất và các thành phần thiết yếu khác như:  Nước: Trong mật ong, nước thường chiếm từ 16% đến 21%, còn các chất keo chiếm khoảng 80% [11].  Đường: Là thành phần chính trong mật ong. Có tất cả ba loại đường chủ yếu là:  Glucose: Chiếm 50% tổng số đường trong mật ong và 35% trong khối lượng mật [11].  Fructose: Đường fructose khó kết tinh, loại mật ong nào chứa nhiều đường frutose sẽ để được lâu hơn mà vẫn giữ được ở thể lỏng.

Đường fructose ngọt hơn đường glucose. Cả hai loại đường này đều dễ hấp thụ vào cơ thể [11].  Sacarose: Chỉ có khoảng 2%, thuộc loại đường kép khó hấp thụ vào cơ thể. Mật ong non có thể chứa tới 6% sacarose [11].

 Protein: Có từ 0,04 - 3%; gốc protein từ mật hoa (protein thực vật) và từ dịch do chính con ong tiết ra (protein động vật) [10].  Các hợp chất phenolic: Mật ong có chứa khoảng 0,1% - 0,5% các hợp chất phenolic. Các hợp chất này có nhiều tác dụng như chống oxy hoá, chống vi khuẩn, chống vi rút, chống ung thư và nhiều hoạt tính sinh học khác [11].  Enzym: Trong mật ong có chứa nhiều loại enzym có vai trò quan trọng đối với hệ tiêu hoá của con người như amylase, invertase, catalase và phosphorylase [4, 35].

 Axit hữu cơ: Axit hữu cơ chiếm một tỷ lệ nhỏ khoảng 0,57% (theo tổng khối lượng mật ong). Ngoài các axit phenolic và các axit amin tự do, một số 6 Bao.thuong axit hữu cơ như formic, oxalic, malic, maleic, succinic, citric, gluconic, glutaric và fumaric đã được phát hiện ở nhiều loại mật ong khác nhau ở các nồng độ khác nhau [24].  Chất khoáng: Tổng hàm lượng khoáng chất của mật ong xấp xỉ 0,04% - 0,2%, bao gồm kali, canxi, natri, magie, photpho, lưu huỳnh, i-ốt. Đặc biệt hàm lượng muối khoáng trong mật ong tương tự như trong máu người [7].

 Vitamin: Hàm lượng vitamin trong mật ong không nhiều nhưng có nhiều loại. Nguồn gốc vitamin này do phấn hoa trong mật mà ra. Viện Nghiên cứu Liên Xô phân tích 1 kg mật ong giàu vitamin B2 bằng 10 lần hàm lượng vitamin B2 có trong nho, táo. Ngoài ra, trong mật còn có chứa các vitamin như vitamin PP, B6, C, E, K và caroten [7].

Tác dụng sinh học của mật ong Mật ong có một số đặc tính sinh học đáng lưu ý như:  Tác dụng kháng khuẩn: Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh mật ong hay dung dịch chứa từ 30% mật ong trở lên là môi trường mà đa số vi khuẩn và nấm không thể phát triển được. Những vết thương, vết mổ được băng bó bằng mật ong sẽ chóng khô, sạch và không có mùi hôi, vì mật ong đã hút nước và chống được sự lây lan của vi khuẩn [33]. Mật ong có tác dụng kháng khuẩn là nhờ sự có mặt của glucose oxidase và nhiều chất có tác dụng kháng khuẩn, áp suất thẩm thấu cao, pH axit. Mật ong có phổ kháng khuẩn rộng, được chứng minh là có khả năng ức chế hơn 80 loại vi khuẩn, ví dụ như S.

aureus, Enterococcus kháng vancomycin, và P.  Tác dụng chống oxi hóa: Các axit phenolic và flavonoid có trong mật ong đóng vai trò quan trọng đối với khả năng chống oxi hóa. Mật ong sử dụng một mình hoặc phối hợp có khả năng phòng chống và ngăn ngừa một số bệnh như xơ vữa động mạch và ung thư [14, 27, 36].  Tác dụng làm lành vết thương: Nhiều nghiên cứu cho thấy mật ong có hiệu quả trong chữa lành các vết thương do tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, và chống oxy hóa.

Mật ong có độ nhớt cao, do đó hình thành hàng rào vật lý và tạo môi trường ẩm lý tưởng cho vết thương mau lành [26]. Mphande và cộng sự đã so sánh tác dụng của mật ong và đường trên 40 bệnh nhân bị 7 Bao.thuong loét, viêm màng phổi mạn tính, hoặc có vết thương sau phẫu thuật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ