Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƠ CA DÂN TỘC THIỂU SỐ HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ THƠ MA TRƯỜNG NGUYÊN 1. Vài nét về thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại Văn học hiện đại các dân tộc thiểu số nói chung, thơ ca hiện đại các dân tộc thiểu số nói riêng, từ lâu đã được khẳng định là một bộ phận văn học có vẻ đẹp, có sắc thái riêng, in đậm dấu ấn tâm hồn và giàu bản sắc văn hóa các dân tộc anh em, với nhiều cá tính sáng tạo độc đáo. Riêng trong lĩnh vực thơ ca, những nhà thơ các dân tộc ít người đã đóng góp vào nền thơ ca hiện đại Việt Nam một thế giới nghệ thuật thơ thực sự mới lạ, sinh động với những gương mặt mới, những giọng điệu riêng. Theo Trần Đăng Xuyền thì: Thơ là nghệ thuật kì diệu bậc nhất của con người.
Thơ của các nhà thơ dân tộc ít người là thứ nghệ thuật hai lần kì lạ, vì đây là tiếng nói hồn nhiên nhất, thể hiện tinh tế, sâu sắc điệu tâm hồn độc đáo của từng nhà thơ, qua đó làm ngời lên gương mặt tinh thần, vẻ đẹp tâm hồn của các dân tộc anh em trên đất nước thân yêu của chúng ta [61;6]. Trong mỗi giai đoạn phát triển, bên cạnh những nét truyền thống cơ bản, thơ ca các dân tộc thiểu số lại có những nét riêng phù hợp với sự phát triển và hoàn cảnh lịch sử. Giai đoạn trước năm 1945: Theo một số nhà nghiên cứu thì văn học dân tộc thiểu số nói chung, thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng đã xuất hiện từ thế kỷ XVII với hai tác giả dân tộc Tày Bế Văn Phùng và Nông Quỳnh Vân với hai bản trường ca Tam nguyên luận và bài Lượn tứ quý được viết bằng chữ Nôm Tày và thể thơ 7 chữ. Tiếp đó, cuối thế kỷ XIX xuất hiện thêm hai nhà thơ dân tộc Thái là Ngần Văn Hoan và Lò Văn Thứ.
Hai tác giả này sáng tác thơ chủ yếu để hát. Nhân dân gọi Ngần Văn Hoan là sláy khắp, với nghĩa là người chuyên sáng tác thơ hát và hát rất giỏi. Ông kế thừa và vận dụng một cách thuần thục những truyện thần thoại, 9 truyện cổ tích, truyện thơ và tục ngữ, ca dao, dân ca Thái vào tác phẩm thơ hát của mình. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Lời hát nền Văn Hoan, là bài thơ dài 2.300 câu được viết với hình thức đối đáp của 2 nhân vật nam và nữ.
Thơ ca Ngần Văn Hoan gần gũi với văn học dân gian, gần gũi với tiếng nói hàng ngày của người dân tộc. Với cách viết đó, ông đã đưa văn học dân gian Thái lên đỉnh cao mới, làm cho thơ dân gian Thái phong phú, trong sáng và giàu hình tượng. Tuy nhiên, đây chỉ là những hiện tượng lẻ tẻ và số lượng tác phẩm họ sáng tác cũng không nhiều, vì thi pháp lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học dân gian, và được viết bằng tiếng dân tộc, nên sức lan tỏa chỉ mang tính phạm vi vùng miền. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cùng với sự hình thành và phát triển của nền văn học quốc ngữ, văn học viết dân tộc thiểu số miền núi cũng đã xuất hiện với sự tham góp của nhiều tác giả ở nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có khá nhiều tác giả dân tộc Tày sáng tác thơ bằng chữ Hán như Hà Vũ Bằng, Bế Ích Bồng, Nông Đình Cấp, Bế Đức Cốm, Lê Văn Dự, Nông Đình Đối…Đặc biệt, có Hoàng Đức Hậu (1890 – 1945) là một hiện tượng đáng chú ý.
Nhà thơ dân tộc Tày ở Cao Bằng này đã sáng tác bằng 3 loại ngôn ngữ Tày, Hán và Quốc ngữ. Trong số 121 bài thơ Đường luật ông để lại có 115 bài viết bằng chữ Tày, 3 bài là chữ Quốc ngữ và 3 bài bằng chữ Hán. Ông được coi là một hiện tượng độc đáo của văn học dân tộc thiểu số thời kì đầu thế kỷ XX. Đó là một nhà thơ có phong cách riêng và không ngừng tìm tòi, cách tân, sáng tạo thể thơ Đường luật để tạo nên tiếng nói riêng, cách thể hiện riêng, mới mẻ, độc đáo, không dùng hình tượng thơ mang tính ước lệ, khuôn sáo, như hình ảnh Tùng, Cúc, Trúc, Mai hay Nguyệt, Phong, Vân… không mang tính khuôn mẫu, phù hợp với sự tiếp nhận của độc giả.
Thơ ông không chỉ ảnh hưởng tới những nhà thơ cùng thời, mà còn ảnh hưởng tới những nhà thơ Tày thế hệ sau như Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Dương Thuấn, Y Phương… Chính ông đã 10 góp phần làm nên một hiện tượng thơ độc đáo trong đời sống thơ ca dân tộc thiểu số cũng như thơ ca Việt Nam nói chung. Vào những năm 1930 - 1940, cùng với thơ ca cách mạng của đất nước, một mảng thơ cách mạng của các dân tộc thiểu số ra đời. Tác giả của mảng thơ này là những chiến sĩ người dân tộc thiểu số hoạt động cách mạng: Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Dương Công Hoạt… Nổi bật trong mảng thơ ca này là bài thơ “Nhắn bạn” của Hoàng Văn Thụ. Đây là bài thơ viết bằng tiếng Việt theo thể thơ Đường luật.
Còn phần lớn các bài thơ khác được lồng vào các điệu dân ca quen thuộc. Với những sáng tác này, hiện thực cách mạng đã ùa vào đời sống văn hóa, văn học các dân tộc thiểu số và đặt nền móng vững chắc cho thơ ca cách mạng và kháng chiến của các dân tộc thiểu số Việt Nam phát triển. Những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của thơ ca thời kỳ này và sự phát triển mạnh mẽ ở giai đoạn sau là Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Viết Toại, Nông Minh Châu… Vào cuối những năm 40 của thế XX đã xuất hiện một số bài thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số có nội dung cách mạng, có tác dụng giác ngộ cao đối với quần chúng nhân dân các dân tộc vùng cao như Lùa chó dậy (1940) của tác giả Cầm Biêu; Dặn vợ, dặn con của Bàn Tài Đoàn (1944), Nông Quốc Chấn có bài Khóc đồng chí hay Mưa gió: …. Đồi núi bốn bề những cơn gió lốc Ngược xuôi sôi sục nước lũ ngập ruộng nương Hùm báo gọi nhau đi kiếm ăn từng lũ, Chim muông bay nhảy để gìn giữ chim muông.
Mặc gió mặc mưa, chúng ta đừng hoảng hốt! Ngày mai trời nắng, sông núi sẽ huy hoàng. Mang tính ẩn dụ cao, tác giả đã mượn hình ảnh của thiên nhiên để nói về hoàn cảnh hiện tại của đất nước, quê hương ông, và ở đây có tính tư tưởng rõ rệt: dù đất nước đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn, loạn lạc, nhưng một tương 11 lai tươi sáng sẽ đến với đồng bào dân tộc. Có thể coi đây là bài thơ trữ tình mang tính hiện thực được viết với cảm hứng lãng mạn cách mạng đầu tiên của thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Có thể nói, thơ ca các dân tộc thiểu số giai đoạn trước năm 1945 tuy mới chỉ là sự bắt đầu, chưa phải đã có nhiều sáng tác nhưng cũng đã để lại dấu ấn riêng, đã có tính sáng tạo, đổi mới, có tính hiện thực cách mạng.
Chính điều này đã góp phần làm phong phú, đa dạng cho nền thơ ca dân tộc, cũng như đặt nền móng vững chắc cho thơ ca cách mạng và kháng chiến của các dân tộc thiểu số Việt Nam phát triển ở những giai đoạn sau. Giai đoạn 1945-1975: * Giai đoạn 1945- 1954: Đây là thời kỳ thơ ca Việt Nam phát triển khá mạnh mẽ, trong đó có thơ ca các dân tộc thiểu số. Hòa cùng dòng chảy chung của văn học dân tộc với tinh thần yêu nước, căm thù giặc, ca ngợi cách mạng, thơ ca của các tác giả dân tộc thiểu số giai đoạn này cũng góp một tiếng nói bảo vệ đất nước, chống giặc ngoại xâm, với nội dung phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ nhưng chiến thắng lẫy lừng của dân tộc ta. Ở thời kỳ này, những nhà thơ dân tộc thiểu số đã xuất hiện từ trước năm 1945 đến nay tiếp tục phát triển với hàng loạt các sáng tác về cuộc sống, con người miền núi trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.
Bên cạnh đó là sự xuất hiện của một số các nhà thơ dân tộc thiểu số khác, đã hăm hở sáng tác những bài thơ thấm đẫm tinh thần yêu nước, tinh thần hi sinh vì nền độc lập dân tộc và lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Về tác giả, chủ đạo vẫn là những tên quen thuộc như Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại (dân tộc Tày), Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó (dân tộc Thái), Bàn Tài Đoàn (dân tộc Dao)… Về tác phẩm, Nông Quốc Chấn đã có bài thơ Việt Bắc đánh giặc (1948), Khâu áo (1948), Dọn về làng (1950): 12 …. Sáng mai về làng sửa nhà phát cỏ, Cày ruộng vườn, trồng lúa ngô khoai Mấy năm qua quên tết tháng Giêng, quên rằm tháng bảy, Chạy hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi Nhớ một hôm mù mịt mưa rơi Cơn gió bão trên rừng cây đổ Cơn sấm sét lán sụp xuống nát cửa Ðường đi lại vắt bám đầy chân… Ngoài những bài thơ trên, Nông Quốc Chấn còn có các bài Đi Béc Linh về (1951), Đời chúng em (1952), Nói với các anh (1953), Rời rừng (1954) và Thư lên Điện Biên (1954); Tác giả Nông Minh Châu có Đêm Ba Khe (1952), Đuổi nhau (1952), Thầm ca (1953), Người thanh niên giữ Đèo Giàng (1953), Gửi anh bạn Triều Tiên (1953), Gửi anh Chương (1954), Hai lời gửi mẹ (1954); Nông Viết Toại có Pây bộ đội (Đi bộ đội), Lần truyện cáu (Nói chuyện cũ- 1954), Kin khẩu mấư (Ăn cơm mới- 1954); Cầm Biêu có Vợ lính ngụy mong chồng (1949), Gái thời giặc (1950), Mường muổi yên vui (1954); Lương Quy Nhân có Cán bộ với dân Mường (1947); Hoàng Nó có Tội ác giặc Pháp ở đồn Pom Nghê (1948); Bàn Tài Đoàn có Chiến thắng Nghĩa Lộ (1952), Mừng thủ đô giải phóng (1954); Bác về thủ đô… Chúng ta nhận thấy rằng, lớp nhà thơ đầu tiên của các dân tộc thiểu số đã được ra đời và trưởng thành luôn gắn liền với phong trào cách mạng Việt Nam. Hầu hết họ đều xuất thân từ các bản làng miền núi xa xôi, từ các gia đình lao động nghèo khổ, bị áp bức bóc lột nặng nề.
Với điều kiện xuất thân như vậy nên giữa họ và nhân dân lao động miền núi không có khoảng cách. Họ gắn bó với nhân dân và đến với cách mạng một cách tự nguyện, tự nhiên.