Chương 1. Đ c đi m đ a lý tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết xây dựng bản đồ ngập lụt Chương 3. Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD xây dựng bản đồ ngập lụt lưu vực sông Sê San từ thượng nguồn đến thủy điện Ialy Kết luận Tài liệu tham khảo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.
Vị trí địa lý Sông Sê San là một trong các nhánh lớn của lưu vực hạ du sông Mê Kông. Sông Sê San được bắt nguồn từ vùng núi cao Ngọc Linh tỉnh Kon Tum thuộc phía Bắc Tây Nguyên của Việt Nam, chảy sang Campuchia và nhập với hạ lưu các sông Srêpôk, SêKông sau đó đổ vào sông Mê Kông ở Strung Treng. Trên lãnh thổ Việt Nam, sông Sê San nằm trên 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai với chiều dài 230km, diện tích lưu vực 11. Lưu vực có tọa độ đ a lý 13045’ đến 15014’ vĩ độ Bắc; toạ độ 107010’ đến 108024’ kinh độ Đông (Hình 1).
Lưu vực sông Sê San có ranh giới với các sông: Phía Bắc giáp lưu vực sông Thu Bồn; phía Nam giáp lưu vực sông Ba, Ia Đrăng; phía Đông giáp lưu vực sông Trà Khúc, sông Ba; phía Tây giáp Lào và Campuchia. Lưu vực sông Sê San trên lãnh thổ Việt Nam chiếm 46.3% diện tích tự nhiên của 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trong đó nằm trên đ a phận của Kon Tum chiếm 87.61% diện tích toàn tỉnh, và chiếm 20.63% diện tích tỉnh Gia Lai. Phần lưu vực sông thuộc đất đai của 14 huyện, th , thành phố gồm: Đắk Glêi, Đắk Tô, Đắc Hà, Ngọc Hồi, Sa Thầy, Kon Plong, Kon Rẫy, Tu Mơ Rông, Chư Pah, Ia Grai, Đức Cơ, Đắk Đoa, TP.Kon Tum và TP. Đặc điểm địa hình Đ a hình của lưu vực thuộc dạng núi cao và trung bình, hướng dốc chính Đông Bắc – Tây Nam.
Độ cao phổ biến của lưu vực phần thượng nguồn từ 800 – 1000m, phần hạ lưu 400 – 600m. Nhìn chung đ a hình trong vùng biến đổi khá phức tạp và b chia cắt mạnh mẽ, có th chia thành 3 dạng đ a hình chính: a. Đ a hình núi cao Phân bố ở phía Bắc lưu vực, độ cao dao động từ 800 đến 2000m. Khối núi phía Bắc và Đông là nhánh núi kéo dài của dãy Trường Sơn gồm những ngọn núi cao trung bình 1200 – 1800m, với đỉnh núi cao nhất là ngọn Ngọc Linh 2.
Kế tiếp khối núi phía Tây chạy dọc biên giới Việt – Lào – Campuchia từ Bắc xuống Nam từ cao độ 1000 – 5000m. Đ c đi m này tạo cho vùng có lượng mưa khá phong phú. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sơ đồ lưu vực sông Sê San 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đ a hình cao nguyên Phân bố ở phía Nam lưu vực, đây là vùng đồi thấp có dạng bát úp kế tiếp nhau nhưng không được liên tục bởi sự chia cắt của các sông, suối nhỏ. Lớp phủ thực vật chủ yếu là các bụi cây lúp xúp độ cao phổ biến 500 – 600m. Đây là vùng có tiềm năng đất nông nghiệp của lưu vực, đất đai tốt có tầng canh tác dày rất thích hợp với sự phát tri n cây công nghiệp ngắn và dài ngày. Đ a hình thung lũng Phân bố chủ yếu dọc theo các con sông lớn như sông Đắc Bla, Đắc Sir, Đắk Pơ Tông đã tạo ra những vùng đ a hình tương đối bằng phẳng thích hợp với sự phát tri n cây lương thực và hoa màu.
Địa chất, địa mạo Lưu vực sông Sê San nằm trên cao nguyên Gia Lai – Kon Tum, xuyên cắt qua nhiều đ a tầng có nguồn gốc khác nhau gồm: đá trầm tích và biến chất Macma. Hệ thống được chia cắt thành các phức hệ khác nhau. Từ thành phố Kon Tum và dọc sông Krông Pô Kô thuộc loại trầm tích lục nguyên; từ thành phố Kon Tum đến Đắk Tô – Tân Cảnh có các trầm tích Neogen gắn kết yếu, thỉnh thoảng g p các bồn trũng nhỏ nằm rải rác dọc sông và được lấp đầy bằng trầm tích đệ tứ bở rời. Lưu vực nằm trong đới kiến tạo Ngọc Linh – Kon Tum, phía Bắc giáp đới Trường Sơn, phía Tây giáp đới SêKông, phía Nam giáp đới SrêPôk – Đà Lạt và phía Đông giáp đới sông Ba.
Đới Ngọc Linh – Kon Tum có vỏ lục đ a cố kết vào Refei, trong quá trình hoạt động kiến tạo đã phá vỡ cố kết Refei đ hình thành các phức hệ Ngọc Linh bao gồm 2 đ a tầng sông Tranh và Đắk Mi lộ ra ở phía Bắc khu vực thành phần Gơnai, Biolat, phiến thạch anh Biolat. Trong phạm vi lưu vực, các thành tạo trầm tích, biến chất, nguồn núi lửa có tuổi Arkei đến Kainozoi phát tri n rộng rãi, có thành phần đa dạng. Chúng được phân thành các phân v đ a tầng sau: a. Giới Arkei Các thành tạo Arkei bao gồm các đá biến chất ở tướng Granulit, chúng được xếp vào phức hệ Kannack không phân chia, bao gồm các hệ tầng KonCot, Xa Lam Cô.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com • Hệ tầng KonCot (ARkc): Hệ tầng lộ ra ít ở núi Kon Ka Kinh, thượng nguồn sông Đắk Pône, thành phần thạch học chủ yếu Plagiogneis 2 pyroxen, đá phiến plagioclas 2 pyroxen, ngoài ra ở phần trên còn xen ít đá phiến thạch anh – biotit có granat. Chiều dày chung của hệ tầng là 700 ÷ 1000m. • Hệ tầng Xa Lam Cô (ARxlc): các đá của hệ tầng phân bố hạn chế ở thượng nguồn sông Đắk Pône, với thành phần thạch học là đá phiến plagioclas – biotit – hypesthen, đá phiến thạch anh – biotit – silimatit – granat – cordierit, gneis – biotit – silimatit – granat, gneis – cordierit – granat. Hệ tầng Xa Lam Cô được đ c trưng bởi các đá metapelit sáng màu xen một ít amphibolit.
Chiều dày chung của hệ tầng là 500 ÷ 900m. Giới Kainozoi Neogen • Hệ tầng Đại Nga (bN2đn): phân bố thành các khu vực ở Măng Đen, Kon Plong và thượng nguồn sông Đắk Psy. M t cắt gồm các tập bazan không có trầm tích xen kẽ, không có các tập bazan phong hóa thành đất đỏ. Có các loại bazan như: bazan 2 pyroxen, plagiobazan, bazan olivin augit và bazan olivin.
Chiều dày của hệ tầng là 30 ÷ 180m. • Hệ tầng Kon Tum (N2kt): phân bố thành dạng dải với chiều ngang khoảng 3 – 4km, kéo dài từ Thành phố Kon Tum theo quốc lộ 14 đến khu vực Đắk Nai. • Hệ tầng Túc Trưng (bN2 – Q1tt): phun trào bazan của hệ tầng Túc Trưng phân bố rộng rãi, kéo dài từ Tây Nam TP. Kon Tum qua TP.
PleiKu đến gần biên giới Campuchia. Đệ tứ Trên lưu vực sông Sê San, các trầm tích Đệ Tứ phân bố rải rác ở dọc các sông, suối lớn, các thung lũng và vùng trũng giữa núi cấu tạo nên các bậc thềm và bãi bồi. Chúng được phân ra làm 2 thành tạo chính là Peistocen và Holocen. Thổ nhưỡng Lưu vực sông Sê San nằm trong thung lũng của cao nguyên Nam Trung Bộ, đây là nguyên nhân cơ bản khiến cho đất ở đây vừa mang đ c trưng của đất đỏ Bazan cao nguyên, vừa mang đ c đi m của đất đá xám dốc tụ.
Theo số liệu điều tra và phân tích thổ nhưỡng của Viện quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp năm 1978, 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉnh sửa trong chương trình 48C và điều tra bổ sung 1993 – 1994 thì đất ở Kon Tum được chia thành 5 nhóm chính: a. Nhóm đất phù sa Gồm 3 loại đất chính là đất phù sa được bồi, đất phù sa loang lổ và đất phù sa ngoài suối. Các loại đất này phân bố chủ yếu ở phần lớn các huyện th trong tỉnh. Nhóm đất xám Gồm 2 loại đất chính là đất xám trên macma axit và đất xám trên phù sa cổ, nhóm đất này nằm rải rác ở khắp các nơi trên các huyện th.
Thảm phủ trên loại đất này thường là tre, nứa và rừng khộp thưa thớt. Loại đất này còn thích hợp với một số loại cây trồng khác như: lúa, ngô, lạc, thuốc lá,… c. Nhóm đất đỏ vàng Gồm 4 loại đất chính: • Đất nâu vàng trên phù sa cổ, tập trung ở các xã trong huyện Sa Thầy. Loại đất này phân bố tập trung gần nguồn nước, đ a hình tương đối bằng phẳng, thích hợp trồng các loại cây ngắn ngày như: mía, đậu tương ho c vùng chuyên canh tập trung cây ăn quả.
• Đất đỏ vàng trên macma axit; • Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất có m t ở hầu hết các huyện Ngọc Hồi và huyện Đắk Hà. • Đất nâu đỏ trên đá bazan phong hóa, tầng đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu tím trên đá bazan. Nhóm đất này có tầng dầy khá lớn nên thích hợp trồng các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, chè,… nó cũng thích hợp cho việc trồng rừng và cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu tương,… d. Nhóm đất mùn vàng trên núi Gồm 3 loại đất chính: • Đất mùn vàng nhạt có nơi Potzon hóa.
• Đất mùn vàng nhạt trên đá sét và biến chất. • Đất nâu đỏ trên macma bazơ và trung tính nằm rải rác ở các huyện Đắk Glei, Đắk Tô. Loại đất này tương đối màu mỡ nhưng phân bố ở những nơi có độ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao khá lớn nên hạn chế cho việc sử dụng chúng vào mục đích công nghiệp, phù hợp cho phát tri n các cây lâm nghiệp đ c biệt là các cây dược liệu quý (Sâm Ngọc Linh). Nhóm đất thung lũng trước núi Đất này được hình thành do sản phẩm được cuốn trôi từ bề m t của các sườn đồi, núi và bồi tụ xuống các thung lũng gần đó.
Đất này phân bố ở hầu hết các huyện trong lưu vực nghiên cứu và phù hợp cho việc sản xuất các cây lúa, hoa màu, rau các loại. Nhìn chung do đ a hình b chia cắt mạnh, cấu trúc đ a chất đa dạng và sự phân hóa của khí hậu đã tạo cho vùng nghiên cứu đ c đi m thổ nhưỡng khá đa dạng và phong phú. Các loại đất xám trên phù sa cổ, đất xám trên macma axit, phù sa được bồi tụ và phù sa có tầng loang lổ có khả năng canh tác nông nghiệp. Ở một số vùng có tầng dày canh tác rất phù hợp đ phát tri n cây công nghiệp dài ngày như ở các huyện Đắk Tô, Ngọc Hồi.