Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Sê San có tổng diện tích tự nhiên trên lãnh thổ Việt Nam là 11.450 km2, trải dài qua 14 huyện, thị xã và thành phố thuộc hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai, chiếm 46,3% diện tích tự nhiên của hai tỉnh này. Khu vực này giữ vai trò chiến lược về an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên nhưng liên tục phải đối mặt với nguy cơ thiên tai lũ lụt nghiêm trọng. Điển hình là trận lũ lịch sử ngày 29 tháng 9 năm 2009 do ảnh hưởng của bão Ketsana với lưu lượng đỉnh lũ tại trạm Kon Tum đạt 5.910 m3/s (tần suất xấp xỉ 1,32%), gây thiệt hại kinh tế ước tính 3.415,161 tỷ đồng, cướp đi sinh mạng của 51 người, làm 38 người bị thương, ngập úng và vùi lấp hơn 6.110 ha lúa cùng hàng nghìn ngôi nhà.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là địa hình lưu vực bị phân cắt dữ dội với độ cao dao động từ 400m đến trên 2.000m, lòng dẫn sông Đắk Bla và Krông Pô Kô có độ dốc lớn từ 1,3% đến 4%, kết hợp với hệ thống bậc thang thủy điện quy mô lớn như Plei Krông (công suất 100MW, dung tích hữu ích 950 triệu m3) và Ialy (công suất 720MW). Đặc điểm này khiến lũ tập trung nhanh, biên độ ngập biến đổi phức tạp, trong khi công tác phòng chống thiên tai tại địa phương còn thiếu các công cụ mô phỏng trực quan và bản đồ ngập lụt chi tiết.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là ứng dụng mô hình thủy lực tích hợp MIKE FLOOD để xây dựng bộ bản đồ ngập lụt cho lưu vực sông Sê San từ thượng nguồn đến tuyến thủy điện Ialy theo các kịch bản mưa tính toán. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng hạ du chịu rủi ro cao tại thành phố Kon Tum (chiếm 87,61% diện tích tự nhiên tỉnh Kon Tum) và huyện Sa Thầy, sử dụng chuỗi số liệu thủy văn và vết lũ thực đo các năm 1996, 2009, 2011, 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ an toàn cho hơn 125.261 cư dân đô thị và ven sông, hỗ trợ nâng cao hiệu quả cảnh báo ngập lụt trên 30% và phục vụ công tác quy hoạch phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa ba khung lý thuyết nền tảng: lý thuyết thủy văn mưa - dòng chảy, lý thuyết thủy động lực học một và hai chiều, cùng hệ thống thông tin địa lý (GIS). Trong đó:

  • Mô hình bồn chứa liên tục MIKE-NAM: Mô tả quá trình hình thành dòng chảy từ mưa bằng cách mô phỏng liên tục hàm lượng ẩm trong 5 bồn chứa tương tác theo chiều thẳng đứng. Mô hình sử dụng 19 thông số vật lý, tập trung vào 5 thông số nhạy nhất quyết định dòng chảy mặt và ngầm gồm dung tích trữ nước bề mặt Umax, dung tích trữ ẩm tầng rễ cây Lmax, thời gian tập trung dòng chảy ngầm CK1,2, hệ số dòng chảy mặt CQOF và hệ số dòng chảy ngầm CQIF.
  • Hệ phương trình Saint-Venant một chiều (1D) trong MIKE 11: Mô phỏng động lực học dòng chảy trong lòng dẫn thông qua phương trình liên tục ∂Q/∂x + ∂A/∂t = q và phương trình động lượng phi tuyến, được rời rạc hóa và giải bằng sơ đồ sai phân hữu hạn 6 điểm ẩn Abbott-Ionescu với số Courant dao động từ 10 đến 20.
  • Hệ phương trình nước nông hai chiều (2D) trong MIKE 21: Mô phỏng bức tranh lan truyền lũ trên vùng bãi tràn ngập lụt bằng phương trình liên tục kết hợp hai phương trình động lượng theo trục x và y, giải bằng thuật toán sai phân ẩn luân phiên hướng (ADI) và phương pháp Double Sweep.
  • Các khái niệm cốt lõi: Bản đồ nguy cơ ngập lụt, mô hình số hóa độ cao DEM, kỹ thuật liên kết thủy lực (Coupling Lateral Links trong MIKE FLOOD) và chu kỳ lặp lại của lũ (tần suất thiết kế p%).

Phương pháp nghiên cứu

  • Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu: Nghiên cứu khai thác chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn đo đạc 6 giờ và liên tục từ 4 trạm thủy văn chính (Kon Tum, Kon Plong, Đắk Mốt, Đắk Tô), 3 trạm khí tượng (Kon Tum, Đắk Tô, Ialy) và 2 trạm đo mưa chuyên dùng (Măng Cành, Đắk Glei) trong giai đoạn các trận lũ lớn 1996, 2009, 2011 và 2013. Mẫu dữ liệu thực địa kiểm chứng bao gồm 30 vết lũ lịch sử (20 vết lũ thuộc đợt lũ tháng 11 năm 1996 và 10 vết lũ đo đạc chi tiết trận lũ lịch sử tháng 9 năm 2009) được đo đạc trắc địa và quy chuẩn về hệ cao độ quốc gia tại 16 xã, phường thuộc thành phố Kon Tum và huyện Sa Thầy.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu sự kiện có chủ đích, tập trung vào các trận lũ cực đoan đại diện cho hai cơ chế sinh lũ đặc trưng: chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (nhánh Krông Pô Kô, diện tích 3.530 km2) và ảnh hưởng của hoàn lưu bão phía Đông Trường Sơn (nhánh Đắk Bla, diện tích 3.507 km2).
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc tích hợp MIKE FLOOD (kết nối MIKE 11 và MIKE 21) khắc phục triệt để hạn chế của mô hình 1D (không mô tả được trường lưu tốc và diện ngập bãi tràn) và mô hình 2D độc lập (tốn tài nguyên tính toán ở lòng dẫn hẹp và công trình điều tiết). Kết hợp công cụ GIS giúp đồng bộ hóa dữ liệu địa hình số hóa DEM và xuất bản đồ ngập lụt dạng raster, polygon với độ phân giải không gian cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Hiệu chuẩn và kiểm định mô hình thủy văn MIKE-NAM đạt độ chính xác cao: Theo chỉ tiêu đánh giá của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe tại trạm Kon Plong và Đắk Mốt trong các trận lũ năm 2009 và 2013 đều đạt từ 0,75 đến 0,86; hệ số tương quan R2 đạt trên 0,88, đảm bảo điều kiện biên lưu lượng đầu vào chính xác cho mô hình thủy lực.
  • Mô hình thủy lực 1D MIKE 11 tái hiện sát diễn biến dòng chảy thực tế: Tại trạm thủy văn Kon Tum, hệ số tương quan giữa mực nước tính toán và thực đo đạt trên 0,90; sai số lưu lượng đỉnh lũ trong trận lũ tháng 10 năm 2011 và tháng 11 năm 2013 đều được kiểm soát ở mức dưới 5%.
  • Mô phỏng không gian ngập lụt MIKE FLOOD trùng khớp cao với thực tế vết lũ: Trận lũ lịch sử tháng 9 năm 2009 (lưu lượng đỉnh 5.910 m3/s tại Kon Tum và 4.090 m3/s tại Đắk Mốt) được mô phỏng chi tiết, sai số cao trình mực nước tại 10 vị trí vết lũ thực đo (như VL1 đến VL9 tại phường Lê Lợi, Quang Trung, Thắng Lợi) chỉ dao động trong khoảng từ 0,05m đến 0,18m.
  • Đánh giá định lượng 4 kịch bản mưa dự báo 24 giờ: Khi lượng mưa tăng từ kịch bản thấp (170mm trên nhánh Krông Pô Kô và 120mm trên nhánh Đắk Bla) lên kịch bản cực đoan (350mm trên nhánh Krông Pô Kô và 250mm trên nhánh Đắk Bla), diện tích ngập lụt tại vùng hạ lưu mở rộng thêm 42,5%, độ sâu ngập tại nhiều khu dân cư nội thị thành phố Kon Tum vượt ngưỡng 2,5m đến 3,5m.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi gây ngập lụt nghiêm trọng tại khu vực nghiên cứu là do địa hình vùng đón gió Ngọc Linh có lượng mưa năm rất lớn (trên 2.000mm), sườn dốc khiến lũ dồn nhanh về vùng thung lũng lòng chảo thành phố Kon Tum. Đặc biệt, đoạn sông Sê San sau điểm hợp lưu giữa sông Đắk Bla và Krông Pô Kô bị co thắt cục bộ với chiều rộng lòng dẫn có nơi chỉ còn 15m đến 20m trước khi đổ vào hồ thủy điện Ialy, gây ứ đọng và dâng ngập ngược dòng.

So sánh với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ sử dụng mô hình 1D đơn thuần (như VRSAP hay HEC-RAS 1D), giải pháp kết nối bên (lateral links) trong MIKE FLOOD đã tái hiện chính xác hiện tượng nước tràn bờ đê bối và dòng chảy phức hợp trên bề mặt bãi tràn. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua các đường quá trình lưu lượng - mực nước theo thời gian thực (hydrograph), bảng so sánh sai số đỉnh lũ thực đo và tính toán, cùng các bản đồ chuyên đề đa lớp hiển thị 5 cấp độ sâu ngập từ dưới 0,5m (màu xanh lá nhạt) đến trên 3,0m (màu đỏ sẫm).

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tăng cường mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn tự động: Lắp đặt bổ sung 06 trạm đo mưa tự động và 02 trạm quan trắc mực nước số hóa tại thượng nguồn lưu vực sông Đắk Bla và Đắk Psy trong giai đoạn 2026-2027. Mục tiêu là nâng độ chính xác của số liệu mưa và dòng chảy đầu vào lên trên 90%, do Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Nguyên chủ trì thực hiện.
  • Hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực: Rà soát và cập nhật quy chế vận hành xả lũ liên hồ chứa giữa Plei Krông (dung tích hữu ích 950 triệu m3), Ialy (720MW) và Thượng Kon Tum (220MW). Yêu cầu chủ động xả đón lũ trước 12 đến 24 giờ khi có dự báo mưa lớn trên 200mm, nhằm cắt giảm từ 15% đến 20% lưu lượng đỉnh lũ qua thành phố Kon Tum, thực hiện thường niên trước tháng 8 bởi Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai địa phương.
  • Ứng dụng bản đồ ngập lụt vào quy hoạch đô thị và hạ tầng giao thông: Tích hợp bộ bản đồ ngập lụt tỷ lệ 1:10.000 và 1:25.000 vào đồ án quy hoạch tổng thể thành phố Kon Tum và huyện Sa Thầy giai đoạn 2026-2030. Nghiêm cấm cấp phép xây dựng kiên cố tại các dải trũng có nguy cơ ngập sâu trên 2,0m, hướng tới mục tiêu giảm 50% thiệt hại kinh tế do ngập úng, do Sở Xây dựng phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Kon Tum triển khai.
  • Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và sơ tán dân cư chi tiết: Thiết lập bản đồ số hóa đường thoát nạn và hệ thống gửi tin nhắn cảnh báo ngập tự động cho 16 xã, phường ven sông, đảm bảo toàn bộ người dân trong vùng rủi ro cao được sơ tán an toàn trước khi đỉnh lũ xuất hiện 4 giờ, do UBND thành phố Kon Tum và các lực lượng chức năng hoàn thành trong năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp: Khai thác bộ bản đồ ngập lụt và các kịch bản tính toán để xây dựng phương án ứng phó khẩn cấp, phân định ranh giới sơ tán dân cư an toàn tại 16 xã, phường dọc sông Đắk Bla và Krông Pô Kô.
  • Các đơn vị quản lý và vận hành hồ chứa thủy điện: Ứng dụng công cụ mô phỏng để tính toán lượng dòng chảy gia nhập khu giữa, hỗ trợ điều tiết hồ chứa Plei Krông, Ialy và Thượng Kon Tum vừa tối ưu hóa sản lượng phát điện vừa đảm bảo an toàn cắt lũ cho hạ du.
  • Viện nghiên cứu, trường đại học và học viên chuyên ngành Thủy văn, Tài nguyên nước: Sử dụng tài liệu làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp luận kết nối mô hình thủy lực 1D-2D trong MIKE FLOOD và quy trình tích hợp công nghệ GIS xử lý dữ liệu địa hình số.
  • Đơn vị tư vấn thiết kế quy hoạch đô thị và công trình giao thông: Sử dụng các mốc cao trình ngập và vùng nguy cơ ngập lụt để xác định cao độ thiết kế nền đường Quốc lộ 14, Quốc lộ 24, cầu cống và hệ thống kè bờ chống xói lở.

Câu hỏi thường gặp

  • Mô hình MIKE FLOOD có ưu điểm gì vượt trội trong bài toán ngập lụt lưu vực sông Sê San? Mô hình tích hợp liền trục dòng chảy 1D trong sông (MIKE 11) với dòng tràn 2D trên bãi (MIKE 21) qua kết nối bên. Giải pháp này giúp mô tả chính xác trường vận tốc, hướng dòng chảy và diện tích ngập trên địa hình phức tạp nhưng vẫn tối ưu hóa thời gian tính toán.

  • Vì sao trận lũ tháng 9 năm 2009 được lựa chọn làm kịch bản kiểm chứng mô hình chính? Trận lũ 2009 là trận lũ lịch sử đặc biệt lớn với lưu lượng đỉnh đạt 5.910 m3/s tại Kon Tum (tần suất 1,32%) và gây thiệt hại trên 3.415 tỷ đồng. Chuỗi số liệu đo đạc khí tượng và tài liệu điều tra vết lũ của trận này rất đầy đủ, tạo cơ sở thực tế chuẩn xác để kiểm chứng mô hình.

  • Dữ liệu vết lũ được thu thập và xử lý như thế nào để đảm bảo độ tin cậy? Nghiên cứu sử dụng 30 vết lũ thực tế tại các công trình kiên cố và nhà dân dọc sông Đắk Bla (từ VL1 đến VL9). Toàn bộ cao độ vết lũ được đo đạc bằng máy trắc địa và dẫn về mốc cao độ quốc gia, cho phép đối chiếu trực tiếp với mực nước mô phỏng trên bản đồ.

  • Bản đồ ngập lụt được xây dựng dựa trên những kịch bản lượng mưa cụ thể nào? Bản đồ được xây dựng theo 4 kịch bản mưa ngày dự báo: 170mm/120mm, 280mm/200mm, 310mm/220mm và 350mm/250mm tương ứng trên hai nhánh Krông Pô Kô và Đắk Bla, cùng kịch bản trận lũ lịch sử năm 2009 nhằm hỗ trợ phương án ứng phó linh hoạt theo từng cấp độ mưa.

  • Các hồ chứa thủy điện lớn ảnh hưởng như thế nào đến chế độ ngập lụt hạ du? Hồ Plei Krông (dung tích hữu ích 950 triệu m3) và hồ Ialy giữ vai trò điều tiết dòng chảy lớn. Tuy nhiên, nếu xả lũ không hợp lý trùng thời điểm đỉnh lũ khu giữa sông Đắk Bla dồn về, mực nước hạ du sẽ dâng cao đột ngột gây ngập úng nghiêm trọng cho thành phố Kon Tum.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công chuỗi mô hình tích hợp MIKE-NAM, MIKE 11 và MIKE 21 trong môi trường MIKE FLOOD kết hợp GIS để mô phỏng ngập lụt lưu vực sông Sê San từ thượng nguồn đến thủy điện Ialy.
  • Đạt độ tin cậy mô hình cao với chỉ số Nash-Sutcliffe từ 0,75 đến 0,86 và sai số cao trình mực nước so với vết lũ thực tế chỉ từ 0,05m đến 0,18m.
  • Xây dựng hoàn chỉnh bộ bản đồ ngập lụt chi tiết cho trận lũ lịch sử 2009 và 4 kịch bản mưa dự báo, xác định rõ các vùng ngập sâu trên 3,5m tại 16 xã, phường thuộc thành phố Kon Tum và huyện Sa Thầy.
  • Cung cấp cơ sở khoa học xác thực phục vụ điều hành quy trình xả lũ liên hồ chứa Plei Krông - Ialy và lập phương án di dời dân cư vùng trũng thấp.
  • Khẳng định tính ưu việt của phương pháp mô hình hóa thủy lực hai chiều trong công tác quản lý rủi ro thiên tai và quy hoạch không gian thoát lũ lưu vực sông miền núi.

Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2026-2028 là nâng cấp mô hình số độ cao DEM có độ phân giải dưới 5m bằng công nghệ quét LiDAR và tích hợp vào hệ thống hỗ trợ ra quyết định trực tuyến thời gian thực. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan phòng chống thiên tai hãy nhanh chóng khai thác, áp dụng bộ bản đồ ngập lụt này vào thực tiễn quản lý lưu vực sông Sê San để bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân.