phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng với nội dung tổng quát của từng chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận - thực tiễn về nợ công và khủng hoảng nợ công Chƣơng 2: Nợ công và xử lý khủng hoảng nợ tại Hy Lạp Chƣơng 3: Bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp cho Việt Nam 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VỀ NỢ CÔNG VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG 1. Khái niệm nợ công Khái niệm nợ công là một khái niêm tƣơng đối phức tạp. Cho đến nay, có nhiều khái niệm về nợ công và nội hàm của khái niệm nợ công cũng chƣa thống nhất. Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp cận ngày nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.
Vì vậy, thuật ngữ nợ công thƣờng đƣợc sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ nhƣ nợ Nhà nƣớc hay nợ Chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nƣớc và nợ của tƣ nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Nhƣ vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia.
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu công quá lớn của Chính phủ. Chi tiêu công nhằm: Thứ nhất, phân bổ nguồn lực; Thứ hai, phân phối lại thu nhập; Thứ ba, ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, chi tiêu công quá lớn hay kém hiệu quả cũng sẽ gây ra những bất ổn cho nền kinh tế. Nhu cầu chi tiêu quá nhiều (đặc biệt cho các khoản đầu tƣ công) so với nguồn thu có đƣợc (từ thuế, phí, lệ phí) sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách buộc Chính phủ phải đi vay tiền (trong hoặc ngoài nƣớc) để trang trải thâm hụt ngân sách dẫn đến nợ công.
Thâm hụt ngân sách kéo dài sẽ làm cho nợ công gia tăng. Nợ không trả sớm, để lâu thành “lãi mẹ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất thêm. Nợ công là do sự mất cân đối giữa thu và chi dẫn tới thâm hụt ngân sách. Nhu cầu chi tiêu quá nhiều trong khi các nguồn thu không đáp ứng nổi buộc Chính phủ 9 phải đi vay tiền thông qua nhiều hình thức (nhƣ phát hành trái phiếu, hiệp định tín dụng…) và vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thƣơng mại, các thể chế tài chính quốc tế…để bù vào khoản thâm hụt, từ đó dẫn đến tình trạng nợ.
Nợ công đã đƣợc biết đến từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX và có rất nhiều những quan điểm về nợ công, có thể kể ra nhƣ sau: Theo quan điểm truyền thống về nợ công, đại diện là J.M Keynes, cho rằng việc vay nợ của Chính phủ làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích lũy vốn, vì số thuế cắt giảm đƣợc bù đắp bằng cách vay nợ, nên đã khuyến khích thế hệ hiện tại tiêu dùng nhiều hơn, số ngƣời thất nghiệp giảm đi, mặc dù lạm phát có thể cao hơn. Tuy nhiên, vay nợ sẽ để lại gánh nợ cho thế hệ sau. Trái ngƣợc với quan điểm truyền thống về nợ công trên, những ngƣời theo quan điểm kinh tế vĩ mô cổ điển (từ thập niên 70), đại diện là Ricardo – Barro lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế đƣợc bù đắp bằng nợ Chính phủ không kích thích chi tiêu trong ngắn hạn, vì không làm tăng thu nhập thƣờng xuyên của các cá nhân, mà chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tƣơng lai. Việc cắt giảm thuế và vay nợ sẽ không gây ra những tác động thực sự đối với nền kinh tế.
Theo Ngân hàng thế giới (WB) và hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị của Liên hợp quốc về thƣơng mại và phát triển (UNCTAD): - Theo nghĩa rộng, nợ công đƣợc hiểu là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm 4 nhóm chủ thể: 1) Nợ của Chính phủ trung ƣơng và các Bộ, Ban, Ngành TW; 2) Nợ của các cấp chính quyền địa phƣơng; 3) Nợ của Ngân hàng thƣơng mại; 4) Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập Ngân sách phải đƣợc sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là ngƣời chịu trách nhiệm trả nợ trong trƣờng hợp tổ chức đó vỡ nợ. 10 - Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ƣơng các cấp chính quyền địa phƣơng và nợ của các tổ chức độc lập đƣợc Chính phủ bảo lãnh thanh toán. - Theo “Luật quản lý công Việt Nam” (năm 2009), nợ công đƣợc hiểu bao gồm ba nhóm là nợ Chính phủ, nợ đƣợc Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phƣơng. Trong đó: 1) Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ khoản vay trong nƣớc, nƣớc ngoài, đƣợc ký kết, phát hành dƣới danh nghĩa nhà nƣớc, Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của Pháp luật.
Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ; 2) Nợ đƣợc Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nƣớc, nƣớc ngoài đƣợc Chính phủ bảo lãnh; 3) Nợ chính quyền địa phƣơng là khoản nợ do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là UBND tỉnh) ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành. Tùy thuộc vào thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc gia cũng có sự khác biệt. Tuy nhiên, tại hầu hết các nƣớc trên thế giới, Luật quản lý nợ công đều xác định: Nợ công gồm nợ của Chính phủ và nợ đƣợc Chính phủ bảo lãnh. Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “Nợ công (nợ Chính phủ hoặc nợ quốc gia) là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ƣơng đến địa phƣơng đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách”.
Vì thế, nợ Chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó. Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “nợ công (nợ Chính phủ hoặc nợ quốc gia) là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ƣơng đến địa phƣơng đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách”. 11 Vì thế, nợ Chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó. Chỉ tiêu xác định nợ công và ngưỡng an toàn nợ công Vay nợ là một cách huy động vốn cho phát triển.
Bản chất nợ không phải là xấu. Nợ đem lại rất nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế của các nƣớc đi vay. Thực tế cho thấy, các nƣớc muốn phát triển nhanh đều phải đi vay. Những nền kinh tế lớn nhất trên thế giới nhƣ Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản,… lại cũng chính là những con nợ lớn.
Tuy nhiên, bên cách những tác động tích cực cũng có không ít tác động tiêu cực. Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nƣớc sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác.
Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, đƣợc hầu hết chính phủ các nƣớc sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách. Để dễ đánh giá về quy mô của nợ Chính phủ, ngƣời ta thƣờng đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tuy nhiên, tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ánh một phần nào đó về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công. Mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạng phát triển của nền kinh tế.
Khi xem xét đến nợ công, chúng ta không chỉ cần quan tâm tới tổng nợ, nợ hàng năm phải trả mà phải quan tâm nhiều tới rủi ro và cơ cấu nợ. Vấn đề quan trọng phải tính là khả năng trả nợ và rủi ro trong tƣơng lai, chứ không chỉ là con số tổng nợ trên GDP. Để đánh giá mức độ rủi ro hay an toàn của nợ công, tiêu chí tỉ lệ nợ công/GDP đƣợc coi là chỉ số đánh giá phổ biến nhất cho cách nhìn tổng quát về tình hình nợ công của một quốc gia. Mức an toàn của nợ công còn đƣợc thể hiện qua việc nợ công có vƣợt ngƣỡng an toàn tại một thời điểm hay giai đoạn nào đó hay không.
Theo thông tƣ hƣớng dẫn phƣơng 12 pháp tính toán các chỉ tiêu giám sát nợ công và nợ nƣớc ngoài của quốc gia, các chỉ tiêu giám sát về nợ công, nợ nƣớc ngoài của quốc gia bao gồm: 1. Nợ công so với GDP a. Chỉ số này phản ánh quy mô nợ công so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và đƣợc tính tại thời điểm 31/12 hàng năm. Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau: 2.
Nợ chính phủ so với GDP a. Chỉ số này phản ánh quy mô nợ Chính phủ so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và đƣợc tính tại thời điểm 31/12 hàng năm. Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau: 3. Nợ vay thƣơng mại của Chính phủ so với GDP a.
Chỉ số này phản ánh quy mô nợ vay thƣơng mại nƣớc ngoài Chính phủ so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và đƣợc tính tại thời điểm 31/12 hàng năm. Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau: 4. Nợ đƣợc Chính phủ bảo lãnh so với GDP a. Chỉ số này phản ánh quy mô nợ đƣợc Chính phủ bảo lãnh so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và đƣợc tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau: 5. Nghĩa vụ nợ Chính phủ so với thu ngân sách nhà nƣớc 13 5. Nghĩa vụ trả nợ (gốc, lãi) trực tiếp của Chính phủ: a. Chỉ số này xác định quy mô nợ trực tiếp của Chính phủ đến hạn hàng năm so với khả năng trả nợ của Chính phủ bằng nguồn thu ngân sách nhà nƣớc và đƣợc tính tại thời điểm 31/12 hàng năm.
Chỉ số này đƣợc tính nhƣ sau: 5. Nghĩa vụ trả nợ (gốc, lãi) vay của Chính phủ về cho vay lại: a.