CHƯƠNG 1 HIỆP ĐỊNH HÀNG RÀO KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ HÀNG RÀO KỸ THUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM 1. Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế 1. Tổ chức thương mại thế giới và Hiệp định hàng rào kỹ thuật 1. Tổ chức thương mại Thế giới Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ra đời trên cơ sở Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới do các nước thành viên của GATT ký ngày 14/4/1994 tại Ma-rốc, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1995 với trụ sở chính đặt tại Geneva, Thụy Sỹ.
WTO là tổ chức quốc tế, hoạt động dựa trên hệ thống các luật lệ, quy định, quyết định cũng như các phụ lục, giải thích để điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực thương mại quốc tế nhằm tạo ra một cơ chế điều tiết thương mại toàn cầu. Hiện nay WTO gồm 154 nền kinh tế thành viên chiếm hơn 97% giá trị GDP và hơn 95% giá trị thương mại toàn cầu. WTO là tổ chức kinh tế đa phương, có nhiệm vụ thúc đẩy tự do hóa thương mại, hội nhập kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Với một thiết chế tổ chức chặt chẽ, hoạt động của WTO tuân thủ năm nguyên tắc: - Thương mại không phân biệt đối xử; - Tạo dựng một nền tảng ổn định cho phát triển thương mại; - Đảm bảo cho thương mại ngày càng tự do thông qua đàm phán; - Tạo môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng; - Dành điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển.
Theo quy định tại Ðiều III của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới WTO có 5 chức năng: a. WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều hành và những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệp định đa biên 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên; b. WTO là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định của WTO. WTO cũng là diễn đàn cho các cuộc đàm phán tiếp theo giữa các thành viên về những quan hệ thương mại đa biên; đồng thời WTO là một thiết chế để thực thi các kết quả từ việc đàm phán đó hoặc thực thi các quyết định do Hội nghị Bộ trưởng đưa ra; c.
WTO sẽ thi hành Thỏa thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên (“Thỏa thuận” này được quy định trong Phụ lục 2 của Hiệp định thành lập WTO); d. WTO sẽ thi hành Cơ chế rà soát chính sách thương mại (của các nước thành viên), ”Cơ chế” này được quy định tại Phụ lục 3 của Hiệp định thành lập WTO; e. Ðể đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc tạo lập các chính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và các cơ quan trực thuộc của nó. Mục tiêu hoạt động của WTO là nhằm thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới; thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế; khuyến khích các nước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao mức sống, tạo thu nhập, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động - xã hội tối thiểu được tôn trọng.
WTO cũng đưa ra các nguyên tắc trong quan hệ thương mại, đó là: Chỉ được phép bảo hộ sản xuất và dịch vụ trong nước bằng thuế quan, không cho phép sử dụng các hạn chế 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định lượng (trừ trường hợp đặc biệt); thuế quan phải giảm dần và không tăng trở lại; áp dụng đãi ngộ tối huệ quốc; áp dụng đãi ngộ quốc gia. Do vậy, việc tham gia WTO trở thành yêu cầu tất yếu đối với các quốc gia. Quan hệ thương mại giữa các nước bị chi phối chủ yếu bởi các quy định trong khuôn khổ của tổ chức thương mại toàn cầu này. Hệ thống các hàng rào thuế quan, phi thuế quan (trong đó có hàng rào kỹ thuật) cũng không phải là ngoại lệ, nó là một bộ phận có vị trí đặc biệt trong các quy định và hoạt động của WTO.
Khái niệm về hàng rào kỹ thuật Để thực hiện tốt chức năng và mục tiêu của mình, hoạt động của WTO chủ yếu dựa trên 18 hiệp định chính, bao gồm các Hiệp định về thuế quan (GATT), dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, trị giá hải quan, hàng nông nghiệp, chống bán phá giá, chống trợ cấp, cấp phép nhập khẩu, kiểm tra hàng trước khi xếp, kiểm dịch động thực vật, quy tắc xuất xứ, một số hiệp định khác và Hiệp định TBT. Toàn bộ quy tắc gói gọn trong 30 vạn trang. Đây là bộ quy tắc khổng lồ giúp điều tiết toàn bộ thương mại toàn cầu. Thuật ngữ "hàng rào kỹ thuật" trong thương mại chỉ được đề cập chính thức trong một Hiệp định của WTO, đó là Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại.
Tuy nhiên, trong Hiệp định này khái niệm về hàng rào kỹ thuật cũng không được rõ ràng mà chỉ thừa nhận rằng "không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hóa xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động có mục đích phá hoại khác, ở mức độ mà nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tùy tiên hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác là phải phù hợp với các quy định trong Hiệp định này". 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong các vòng đàm phán song phương, đa phương và vòng đàm phán URUGUAY đều xuất hiện vấn đề các hàng rào kỹ thuật thương mại trong hầu hết các lĩnh vực, với các biện pháp rất đa dạng và tinh vi. Trong các rào cản phi thuế quan thì hàng rào kỹ thuật được các nước sử dụng nhiều nhất.
Có rất nhiều cách nhìn nhận và định nghĩa khác nhau về thuật ngữ hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế. Trước đây người ta cho rằng hàng rào kỹ thuật thương mại là những biện pháp, những chính sách kiểm dịch hàng hóa, thực phẩm hoặc các biện pháp cấm, ngăn chặn hàng hóa từ nước khác nhập khẩu vào một nước. Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD) năm 1997 cũng đưa ra định nghĩa riêng về hàng rào kỹ thuật, đó là “Các quy định mang tính chất xã hội, là các quy định do một nhà nước đưa ra nhằm đạt được các mục tiêu về sức khỏe, an toàn, chất lượng và đảm bảo môi trường; căn cứ vào hàng rào kỹ thuật thương mại, người ta có thể nhận thấy các mục tiêu này thông qua việc một nước ngăn cản hàng hóa không đảm bảo chất lượng vào nước mình”. Mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế, dưới góc độ nghiên cứu của mình, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản về hàng rào kỹ thuật “Là một hình thức bảo hộ mậu dịch thông qua việc nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hết sức khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật này có thể liên quan đến tất cả các quá trình của sản phẩm từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng.
Hàng hóa nếu không đạt được các tiêu chuẩn trên sẽ không được phép nhập khẩu vào lãnh thổ của nước nhập khẩu” 1. Các rào cản trong thương mại quốc tế Trong lĩnh vực kinh tế người ta thường nói đến các rào cản thương mại như thuế quan, các hàng rào phi thuế quan, rào cản pháp lý (những quy định của luật pháp hạn chế hoạt động thương mại)… đây là những rào cản do nhà nước 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặt ra với mục đích bảo hộ kinh tế trong nước và thường được nhìn nhận như là các bộ phận hay công cụ trong chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia. Kết quả các vòng đàm phán thương mại đa phương và song phương trong khuôn khổ WTO và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) về mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại đã xác định rằng rào cản trong thương mại quốc tế xuất hiện trong các lĩnh vực và càng ngày càng phát triển. Hàng rào thuế quan Thuế quan là một trong những rào cản thương mại phổ biến nhất trong thương mại quốc tế, do vậy trong hầu hết các vòng đàm phán thương mại đa phương và song phương vấn đề thuế quan luôn là vấn đề trung tâm và thường chiếm nhiều nhất thời gian của các cuộc đàm phán.
Trong thực tiễn thương mại quốc tế có rất nhiều loại thuế và mức thuế suất khác nhau, trong đó có các loại thuế quan phổ biến sau: - Thuế phần trăm (ad-valorem tariff): được đánh theo tỷ lệ phần trăm giá trị giao dịch của hàng hóa nhập khẩu. Đây là loại thuế được sử dụng phổ biến nhất hiện nay nhưng nhìn chung còn ở mức cao nên WTO kêu gọi các nước thành viên tiếp tục cam kết cắt giảm. + Thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) còn gọi là thuế suất thông thường. Đây là mức thuế cao nhất mà các nước áp dụng đối với những nước chưa phải là thành viên của WTO và chưa ký kết Hiệp định thương mại song phương với nhau.
Thuế này có thể nằm trong khoảng từ 20-110%. + Thuế tối huệ quốc (MFN): là loại thuế mà các nước thành viên WTO áp dụng cho những thành viên khác hoặc theo các Hiệp định song phương về ưu đãi thuế quan. Đây là loại thuế có mức thuế suất thấp hơn nhiều so với thuế suất thông thường. + Thuế áp dụng đối với các khu vực thương mại tự do (FTA): đây là loại thuế có mức thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều mặt hàng.