CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CÔNG TY MATAI Hình 1.1: Logo công ty Matai (Nguồn:Website công ty ) 1. Giới thiệu tổng quát về công ty Tên công ty: MA TAI (VIETNAM) Co. Vốn doanh nghiệp là 5,4 triệu USD với doanh thu hàng năm khoảng 29 triệu USD. Số lượng nhân viên bao gồm 5 nhân viên Nhật Bản và 970 nhân viên người Việt Nam.
Mục tiêu hiện tại là trở thành nhà sản xuất bao jumbo lớn của Công ty Nihon Matai, phục vụ thị trường Nhật Bản và quốc tế. Cũng như trở thành nhà cung cấp chính cho thị trường Đông Nam Á và Việt Nam. Doanh nghiệp thành lập 2 cở sở: Bảng 1.1: Thông tin sơ lược công ty Cơ sở 1 Cơ sở 2 - Vị trí tọa lạc tại: đường Tân Thuận, khu - Vị trí tọa lạc tại: đường số 20, khu chế chế xuất Tân Thuận, quận 7, thành phố Hồ xuất Tân Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. - Số điện thoại: 84-8-37701773 - Số điện thoại: 84-8-37700361 - Fax: 84-8-3-7701775 - Fax: 84-8-37700373 - Email: mvc@matai.vn - Diện tích đất: 20.000 m2 - Diện tích đất: 12.000 m2 - Diện tích nhà máy: 12.500 m2 - Diện tích nhà máy: 7.500 m2 - Thời gian làm việc: Thời gian làm việc: Bộ phận cơ khí: 3 ca – 4 kíp 2 ca (6:00 ~ 14:00, 14:00 ~ 22:00) Bộ phận may: 2 ca (6:00 ~ 14:00, 14:00 ~ 22:00) (Nguồn: Tài liệu hướng dẫn tại công ty ) 4 Hình 1.2: Hình ảnh cơ sở 1 công ty Matai (Nguồn: Website công ty ) Hình 1.3: Hình ảnh cơ sở 2 công ty Matai (Nguồn: Website công ty) 5 Lịch sử hình thành và phát triển: Thành lập vào tháng 6 năm 1995.
Cơ sở đầu tiên đi vào hoạt động tháng 3 năm 1996, bắt đầu với diện tích 10.000 chiếc/ tháng. Đến tháng 10 năm 1998, cơ sở 1 được mở rộng gấp 2 lần, đã lên đến 20.000 m2 và tăng năng suất toàn nhà máy thêm 30.000 chiếc/tháng. Tháng 1 năm 2003, công ty ra mắt sản phẩm mới NEOPALLEX, năng suất tăng lên 60.000 chiếc/ tháng. Kỷ niệm 10 năm thành lập, vào tháng 3 năm 2006 năng suất nhà máy đã tăng lên 80.000 chiếc/ tháng.
Vào năm 2008, khả năng sản xuất cao nhất đạt 100.000 chiếc/tháng. Tháng 5 năm 2009, công ty thành lập cơ sở 2 trong khu chế xuất Tân Thuận (Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh) với năng suất hoạt động ban đầu 120.000 chiếc/ tháng. Đến năm 2013, năng lực sản xuất nhà máy lên tới 180.000 chiếc/ tháng. Vào tháng 12 năm 2000, doanh nghiệp đạt được chứng chỉ ISO-9001 (chứng chỉ công nhận tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng).
Tháng 5 năm 2006, đạt được ISO-14001 (tiêu chuẩn công nhận hệ thống quản lý môi trường. Vào tháng 12 năm 2016, doanh nghiệp đạt được chứng chỉ FSSC-22000 (tiêu chuẩn chứng nhận hệ thống quản lý an toàn thực phẩm được cấp bởi Hiệp hội Chứng nhận An toàn Thực phẩm) tại cơ sở 2. Vào tháng 2 năm 2017, doanh nghiệp đạt được chứng chỉ FSSC-22000 (tiêu chuẩn chứng nhận hệ thống quản lý an toàn thực phẩm được cấp bởi Hiệp hội Chứng nhận An toàn Thực phẩm) tại cơ sở 1. Và đến tháng 3 năm 2018, công ty đã đạt được chứng chỉ ISO-9001 và ISO-14001 phiên bản mới nhất 2015.
Lĩnh vực kinh doanh và sản phẩm Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh bao bì, bao gồm những sản phẩm chủ lực như: Jumbo bag, Neopallex, Inner Liner Bag with bottle shape. Sản phẩm: Jumbo bag Là loại bao bì chuyên vận chuyển các sản phẩm khô và lỏng trong ngành thực phẩm, công nghiệp và dược phẩm. Có sức chứa lớn: từ 500kg - 2. Được làm từ vải polypropylene, chống chịu với thời tiết khắc nghiệt, có thể tái sử dụng nhiều lần.4: Sản phẩm Jumbo bag của công ty (Nguồn: Tác giả sưu tầm) Sản phẩm: Neopallex Đây là túi có sức chứa lớn và được sử dụng với nhiều chức năng khác nhau.
Cùng với việc sản xuất bằng nhựa PP và PE, túi có thể tái sử dụng nhiều lần.5: Sản phẩm Neopallex của công ty (Nguồn: Tác giả sưu tầm) 7 Sản phẩm: Inner Liner Bag with bottle shape Công dụng chủ yếu của túi giúp chứa đầy sản phẩm đóng gói duy trì hình dạng. Tối ưu không gian vận chuyển. Túi lót được làm bằng polyetylen có tác dụng để bảo vệ sản phẩm bên trong túi khỏi các tác nhân bên ngoài. Túi lót có vòi xả có thể được buộc bên trong hoặc kéo qua vòi xả và buộc lại.6: Sản phẩm Inner Liner Bag with bottle shape của công ty (Nguồn: Tác giả sưu tầm) 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Giới thiệu công tác hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu 2. Khái niệm và phân loại loại nguyên vật liệu Hung-Liang Chiu và cộng sự (2001), đã từng nhận định nguyên vật liệu trong ngữ cảnh là đề cập đến các thành phần hoặc bộ phận cần thiết cho các quy trình sản xuất trong ngành sản xuất. Còn với Yeh Pu-Yang và cộng sự (2009), nhóm tác giả đã khái niệm nguyên vật liệu là những đối tượng lao động dạng vật thể hóa, cũng là đối tượng chính trong quá trình lập kế hoạch yêu cầu, tính toán số lượng yêu cầu ròng và số lượng dự trữ dự báo. Nhận thấy điểm chung của 2 nhóm tác giả rằng, nguyên vật liệu được họ nhắc đến không chỉ là những đối tượng chính tạo nên cấu hình sản phẩm, mà còn là những đối tượng phụ nâng cao chất lượng sản phẩm.
Không chỉ là những nguyên liệu số lượng biến thiên theo thành phẩm tạo ra mà còn là những vật liệu cố định được khấu hao qua nhiều đời sản xuất. Ví dụ với sản phẩm trà khô Bảo Hân, nguyên vật liệu bao gồm búp trà non là chính yếu, hương sâm dứa nâng cao hương vị, và cả bóng đèn nhiệt làm khô trà cũng là nguyên vật liệu. Phân loại: Trong Thư viện Học liệu Mở Việt Nam có xem xét tình hình trong một doanh nghiệp cụ thể, nguyên vật liệu có thể bao gồm từ nhiều loại với công dụng và nội dung kinh tế trong quá trình sản xuất khác nhau, thuộc tính lý hóa khác nhau. Từ định hướng của nhà quản lý mà có nhiều cách phân loại nguyên vật liệu, có thể kể đến như: Căn cứ vào nội dung kinh tế của nguyên vật liệu và yêu cầu trong quản lý của doanh nghiệp; căn cứ vào nguồn nhập nguyên vật liệu; căn cứ vào mục đích sử dụng.
Với mỗi căn cứ trên, nguyên vật liệu được chia cụ thể như sau: Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, nguyên vật liệu được phân thành: Nguyên vật liệu chính (tính cả bán thành phẩm được mua trực tiếp từ bên ngoài): đây là đối tượng chính yếu tạo nên cấu hình sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu chính sẽ được tính vào chi phí nguyên liệu sản phẩm. Vật liệu phụ: là loại nguyên vật liệu chỉ có tác dụng phụ. Nó không cấu thành sản phẩm mà chỉ dùng để gia tăng chất lượng và giá trị nguyên liệu chính, hoàn chỉnh sản phẩm.
Nguyên liệu: đây là nguyên vật liệu dùng để cung cấp năng lượng cho quá trình sản xuất. Phụ tùng hay thế: là các 9 vật liệu để sửa chữa thay thế cho các máy móc trong nhà xưởng, dây chuyền, các phương tiện vận chuyển phục vụ sản xuất. Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: là các vật liệu mà doanh nghiệp đầu tư cho các hoạt động xây dựng cơ bản. Phế liệu: là các nguyên vật liệu bị loại ra khỏi quá trình sản xuất, cần được thanh lý.
Vật liệu khác: là những nguyên vật liệu chưa được kể đến. Căn cứ vào nguồn nhập: Nguyên vật liệu mua ngoài. Nguyên vật liệu gia công chế biến bởi chính doanh nghiệp. Căn cứ vào mục đích sử dụng: Nguyên vật liệu trực tiếp sử dụng vào sản xuất.
Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác như quản lý phân xưởng, tiêu thụ sản phẩm… 2. Khái niệm và yêu cầu của MRP Manthou và cộng sự (1996) định nghĩa hoạch định nhu cầu yêu cầu nguyên vật liệu (MRP) là một hệ thống thông tin dựa trên máy tính được thiết kế để kiểm soát các hoạt động sản xuất trong một tổ chức. Đây là một kỹ thuật mạnh mẽ để xác định khi nào đặt hàng các mặt hàng có nhu cầu phụ thuộc, cũng như để lập kế hoạch sản xuất. Đến 2 thế kỷ sau, Burcher (2015) cũng xác định tương tự, hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) là một bộ kỹ thuật lập kế hoạch dựa trên máy tính xem xét yêu cầu trong tương lai đối với sản phẩm hoàn chỉnh theo lịch sản xuất chính và với hóa đơn nguyên vật liệu (BOM), dữ liệu trạng thái tồn kho và thời gian giao hàng thông tin, để tạo ra các yêu cầu cho tất cả các cụm lắp ráp con, bộ phận và nguyên liệu thô để tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh.
Nó gợi ý việc phát hành các đơn đặt hàng bổ sung nguyên liệu. Về bản chất, MRP được thiết kế cho môi trường có nhu cầu phụ thuộc với mục tiêu cung cấp đúng phụ tùng vào đúng thời điểm. Theo mô hình mà Manthou và cộng sự (1996) mô tả, một mô hình MRP điển hình sẽ yêu cầu các yếu tố bao gồm: Đầu vào: Lịch trình sản xuất được tạo thành từ đơn hàng của các thành phần cùng với dự báo được tính toán. Nó chỉ ra rõ nhu cầu sản phẩm về số lượng thời gian cần phải có.
Nhu cầu đó được lấy từ những khách hàng độc lập và được bộ phận tính toán dự báo kết hợp sắp xếp một cách hợp lý; Yếu tố tiếp theo là Hồ sơ nguyên vật liệu (BOM) hay còn gọi là cấu trúc sản phẩm. Đây là một bản thiết kế sản phẩm mô tả mối quan hệ mật thiết giữa các nguyên vật liệu cấu hình nên sản phẩm. Nó giúp quá trình lập 10 kế hoạch diễn ra nhanh chóng và trực quan hơn, tiết kiệm thời gian và công sức; Cuối cùng của đầu vào là Hồ sơ nguyên vật liệu dự trữ. Hồ sơ này cho biết lượng dự trữ còn lại của những nguyên vật liệu có liên quan, yêu cầu về tồn kho an toàn, và dùng những con số này để tính toán lượng cần đặt mua trong lần kế hoạch tiếp theo.
Quá trình: là hệ thống máy tính và chương trình phần mềm đủ để tính toán và dự tữ thông tin. Theo đó là một đội ngũ nhân viên có trình độ kiến thức trong xây dựng MRP và khả năng sử dụng máy tính. Đầu ra: sẽ cho ta các thông tin về báo cáo nhu cầu nguyên vật liệu định kỳ, báo cáo nhu cầu nguyên vật liệu hàng ngày, khuyến cáo mua hàng (gồm số lượng bao nhiêu, ngày cần phát đơn hàng, ngày đơn hàng về).1: Một hệ thống MRP điển hình (Nguồn: Manthou và cộng sự, 1996) 11 2.