Luận văn thạc sĩ áp dụng pháp luật của tòa án nhân dân trong giải quyết án hôn nhân và gia đình qua thực tiễn tỉnh thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu áp dụng pháp luật của tòa án nhân dân trong giải quyết án hôn nhân và gia đình qua thực tiễn tỉnh, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2014

106
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về áp dụng pháp luật Tòa án nhân dân trong án hôn nhân và gia đình

Áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân (TAND) trong giải quyết án hôn nhân và gia đình là một vấn đề quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. TAND đóng vai trò trung tâm trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, đồng thời đảm bảo sự công bằng và công lý trong các vụ án hôn nhân và gia đình. Việc áp dụng pháp luật không chỉ đơn thuần là thực hiện các quy định mà còn phải phù hợp với thực tiễn xã hội và nhu cầu của người dân.

1.1. Khái niệm và vai trò của TAND trong án hôn nhân và gia đình

TAND là cơ quan có thẩm quyền xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình, bao gồm các vấn đề như ly hôn, quyền nuôi con, và phân chia tài sản. Vai trò của TAND không chỉ là giải quyết tranh chấp mà còn là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình.

1.2. Đặc điểm của án hôn nhân và gia đình tại TAND

Án hôn nhân và gia đình có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm tính chất phức tạp và nhạy cảm. Các vụ án này thường liên quan đến tình cảm, tâm lý và các mối quan hệ xã hội, đòi hỏi TAND phải có sự nhạy bén và hiểu biết sâu sắc về pháp luật cũng như thực tiễn.

II. Vấn đề và thách thức trong áp dụng pháp luật TAND tại Thái Nguyên

Trong quá trình áp dụng pháp luật, TAND tại Thái Nguyên gặp phải nhiều thách thức. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết án mà còn tác động đến quyền lợi của các bên liên quan. Việc thiếu hụt nguồn lực, sự phức tạp của các vụ án, và sự thay đổi trong nhận thức của người dân về pháp luật là những yếu tố cần được xem xét.

2.1. Những khó khăn trong quy trình giải quyết án hôn nhân và gia đình

Quy trình giải quyết án hôn nhân và gia đình tại TAND thường gặp khó khăn do sự phức tạp của các mối quan hệ gia đình. Nhiều vụ án kéo dài do thiếu chứng cứ hoặc sự không hợp tác từ các bên liên quan.

2.2. Tình trạng thiếu hụt nguồn lực và nhân lực tại TAND

TAND tại Thái Nguyên đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực và nguồn lực, điều này ảnh hưởng đến khả năng giải quyết nhanh chóng và hiệu quả các vụ án hôn nhân và gia đình.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật TAND trong án hôn nhân và gia đình

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, TAND cần áp dụng các phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc cải cách quy trình, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, và tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan là những yếu tố quan trọng.

3.1. Cải cách quy trình giải quyết án hôn nhân và gia đình

Cải cách quy trình giải quyết án cần được thực hiện để giảm thiểu thời gian và chi phí cho các bên liên quan. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ và xử lý vụ án có thể giúp nâng cao hiệu quả.

3.2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ TAND

Đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ TAND là cần thiết để họ có thể xử lý các vụ án hôn nhân và gia đình một cách hiệu quả và công bằng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Thái Nguyên

Kết quả nghiên cứu cho thấy TAND tại Thái Nguyên đã có những bước tiến trong việc áp dụng pháp luật trong giải quyết án hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được cải thiện để đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan.

4.1. Kết quả đạt được trong giải quyết án hôn nhân và gia đình

TAND đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

4.2. Những hạn chế và bài học kinh nghiệm

Mặc dù có nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế trong quy trình giải quyết án. Việc rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn sẽ giúp TAND cải thiện hơn nữa trong tương lai.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của áp dụng pháp luật TAND

Áp dụng pháp luật của TAND trong giải quyết án hôn nhân và gia đình tại Thái Nguyên cần được tiếp tục cải thiện để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Việc nâng cao chất lượng giải quyết án sẽ góp phần ổn định xã hội và bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình.

5.1. Tương lai của áp dụng pháp luật TAND trong án hôn nhân và gia đình

Tương lai của áp dụng pháp luật TAND trong án hôn nhân và gia đình sẽ phụ thuộc vào sự cải cách và đổi mới trong quy trình giải quyết án, cũng như sự nâng cao nhận thức của người dân về pháp luật.

5.2. Đề xuất giải pháp cho TAND trong tương lai

Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, bao gồm việc tăng cường đào tạo, cải cách quy trình và nâng cao sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ áp dụng pháp luật của tòa án nhân dân trong giải quyết án hôn nhân và gia đình qua thực tiễn tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật của TAND trong giải quyết án hôn nhân và gia đình 1. Khái niệm áp dụng pháp luật của TAND trong giải quyết án hôn nhân và gia đình Hôn nhân là một hiện tƣợng xã hội, là sự liên kết giữa ngƣời nam giới và ngƣời phụ nữ. Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân luôn mang tính giai cấp.

Dƣới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự liên kết giữa ngƣời nam giới và ngƣời phụ nữ đƣợc pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống cùng nhau suốt đời. Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do việc kết hôn và đƣợc biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng. Trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội loài ngƣời, giai cấp thống trị bằng pháp luật luôn điều chỉnh quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng, lợi ích của giai cấp mình, xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó và tƣơng ứng với chế độ hôn nhân nhất định. Theo quy định của pháp luật về Hôn nhân và gia đình ở nƣớc ta hiện nay thì “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”[22, tr.

Do vậy, có thể hiểu hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một ngƣời nam giới và một ngƣời phụ nữ thành vợ chồng, quan hệ này dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật. Gia đình là một khái niệm rộng hơn khái niệm hôn nhân. Gia đình là một hiện tƣợng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời trong đó hôn nhân là một trong những cơ sở để hình thành nên 7 gia đình. Gia đình là tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dƣỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau.

Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau thì tính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau. Gia đình trong xã hội xã hội chủ nghĩa là hình thái gia đình cao nhất trong lịch sử, chế độ xã hội chủ nghĩa quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia đình kiểu mới. Đó là quan hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia đình, phản ánh mối quan hệ bình đẳng nam và nữ trong gia đình cũng nhƣ ngoài xã hội. Nhƣ vậy, hôn nhân là cơ sở của gia đình, là tiền đề để xây dựng gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích mỗi công dân, nhà nƣớc và xã hội.

Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tƣ hữu và Nhà nƣớc” (1884), Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng: Chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó và bƣớc chuyển từ hình thái gia đình này lên hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng đƣợc quyết định bởi những điều kiện vật chất của đời sống xã hội. Bằng tác phẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trƣớc đây về hình thái HN&GĐ trong lịch sử. Do tính chất quan trọng, phức tạp của HN&GĐ nên trong xã hội văn minh HN&GĐ luôn đƣợc các nhà nƣớc quan tâm ban hành pháp luật (pháp luật về HN&GĐ) để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ. Pháp luật HN&GĐ thƣờng đề cập tới các vấn đề nhƣ: Kết hôn; quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa ông bà và các cháu, giữa các thành viên trong gia đình; ly hôn; cấp dƣỡng; con nuôi… Những quy định của pháp luật HN&GĐ phải đƣợc các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách tự giác, nghiêm minh, tuy nhiên không phải khi nào nó cũng đƣợc các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách chính xác, đầy đủ trên thực tế.

Bởi vậy, cần phải 8 tiến hành hoạt động ADPL của các cơ quan nhà nƣớc, các nhà chức trách có thẩm quyền trong đó có hoạt động ADPL của TAND. Thông thƣờng TAND sẽ tiến hành ADPL trong các trƣờng hợp: khi có những hành vi vi phạm pháp luật về HN&GĐ nhƣ đánh đập, làm nhục vợ con và các thành viên khác trong gia đình; khi đƣơng sự muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng bằng bản án ly hôn, khi con cái thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho cha mẹ, khi đƣơng sự muốn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi… Chủ nghĩa Mác – Lê nin khẳng định pháp luật đƣợc ban hành là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trật tự hóa, củng cố và phát triển các quan hệ xã hội theo những định hƣớng mong muốn nhằm đạt đƣợc những mục đích nhất định. Và pháp luật chỉ có thể phát huy đƣợc vai trò và những giá trị của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó đƣợc tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống. Do vậy, vấn đề quan trọng không phải là ban hành thật nhiều luật, mà quan trọng là thực hiện chúng trên thực tế, làm cho những yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống.

Chính vì vậy, nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật HN&GĐ nói riêng là điều kiện không thể thiếu của một nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân nhƣ nƣớc ta hiện nay. Vậy thực hiện pháp luật là gì? Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hành động thực tế của chủ thể pháp luật. Các QPPL rất phong phú cho nên hình thức thực hiện chúng cũng khác nhau. Trong quá trình giải quyết án HN&GĐ đòi hỏi các Tòa án không chỉ ADPL mà còn phải tuân theo một số hình thức thực hiện pháp luật khác trong từng trƣờng hợp cụ thể nhƣ: tuân thủ pháp luật (Tòa án phải tuân theo các quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động của mình, phải kiềm chế không đƣợc 9 tiền hành một số hoạt động pháp luật cấm nhƣ không đảm bảo tính khách quan trong việc lựa chọn thẩm phán, nói xấu đƣơng sự tại phiên tòa…); thi hành pháp luật (Tòa án tiến hành đầy đủ các quy trình để giải quyết một vụ án HN&GĐ từ thụ lý, điều tra, đƣa vụ án ra xét xử, thi hành bản án trên thực tế.); sử dụng pháp luật (Tòa án sử dụng quyền của mình để triệu tập đƣơng sự lấy lời khai, kê biên tài sản, định giá tài sản…).

Trong tổ chức Bộ máy nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật đƣợc quy định rất phong phú, đa đạng trong đó có TAND các cấp. Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 đã quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tƣ pháp”[26]. ADPL là một trong những hình thức thực hiện pháp luật và là hình thức thực hiện pháp luật có sự can thiệp của nhà nƣớc. ADPL của TAND trong giải quyết án HN&GĐ thƣờng đƣợc thực hiện trong các trƣờng hợp sau: Thứ nhất, khi cần truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm pháp luật HN&GĐ hoặc áp dụng các biện pháp tác động khác không liên quan đến vi phạm pháp luật.

Chẳng hạn khi cần cƣỡng chế một hình phạt tù đối với kẻ thực hiện hành vi phạm tội nhƣ đánh đập, làm nhục vợ con… hay nhƣ trong trƣờng hợp bản án HN&GĐ buộc ngƣời chồng phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng, nhƣng họ đã không thực hiện và khi ngƣời vợ có đơn yêu cầu thi hành án, thì cơ quan Thi hành án buộc ngƣời chồng phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nhƣ nội dung trong bản án đã có hiệu lực quy định. Thứ hai, khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nƣớc. Chẳng hạn nhƣ nam nữ muốn xác lập quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn ở Uỷ ban nhân dân, muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng thì phải có quyết 10 định ly hôn của Tòa án, cha mẹ nếu không muốn nhận con thì phải có chứng cứ và đƣợc Tòa án xác nhận… Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không tự giải quyết đƣợc. Chẳng hạn nhƣ không thống nhất đƣợc việc chia tài sản hoặc giao con cho một bên trực tiếp nuôi dƣỡng khi vợ chồng ly hôn, không thống nhất đƣợc số tiền cấp dƣỡng cho con sau khi cha mẹ ly hôn… Thứ tư, trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nƣớc thấy cần thiết phải tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó hoặc Nhà nƣớc xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế.

Ví dụ: Việc xác nhận mất tích hoặc đã chết để ngƣời còn lại có điều kiện kết hôn; việc xác nhận giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của các đƣơng sự… Trong quá trình xét xử tòa án phải ADPL để giải quyết các vụ án. Đối với các vụ án HN&GĐ, tòa án phải ADPL để giải quyết từ khâu phân loại đơn, thụ lý đơn, điều tra, thu thập chứng cứ, xác minh, định giá tài sản… cho đến khi đƣa vụ án ra xét xử và tùy từng vụ án cụ thể mà phân loại giải quyết khác nhau. Trình tự các bƣớc giải quyết này phải tuân theo BLTTDS nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2004. Theo quy định khi đƣơng sự gửi đơn đề nghị giải quyết vụ án HN&GĐ đến TAND cấp có thẩm quyền giải quyết, sau khi nhận đơn tòa án tiến hành phân loại và thụ lý giải quyết theo trình tự tố tụng, nhƣ điều tra thu thập chứng cứ vụ án, lựa chọn QPPL áp dụng, ra các quyết định hoặc ra bản án buộc các đƣơng sự thi hành bằng nhiều hình thức nhƣ tự nguyện thi hành hoặc có sự cƣỡng chế thi hành của cơ quan thi hành án dân sự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ