lời mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục bảng biểu, tài liệu liệu tham khảo. Cơ sở lý luận về đánh giá thực hiện công việc và phương pháp quản trị theo mục tiêu (MBO) trong đánh giá thực hiện công việc Chương 2. Thực trạng đánh giá thực hiện công việc của nhân viên theo mục tiêu tại trung tâm kinh doanh Hà Nội 2 – công ty cổ phần viễn thông FPT. Triển khai áp dụng phương pháp quản trị theo mục tiêu (MBO) vào đánh giá thực hiện công việc của nhân viên tại trung tâm kinh doanh Hà Nội 2 – Công ty Cổ phần viễn thông FPT và các các pháp.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC VÀ PHƢƠNG PHÁP QUẢN TRỊ THEO MỤC TIÊU (MBO) TRONG ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC 1. Các khái niệm, vai trò, yêu cầu khi đánh giá thực hiện công việc của nhân viên 1. Các khái niệm Trong tổ chức nói chung và các doanh nghiệp nói riêng đánh giá nhân viên trong tổ chức mình luôn giữ một vai trò quan trọng và không thể thiếu. Dù là một tổ chức nhỏ với số lượng nhân viên ít hay những tổ chức lớn cũng đều phải đánh giá nhân viên của mình.
Có như vậy mới đảm bảo khâu quản lý trong tổ chức được toàn diện hơn. Khái niệm đánh giá được định nghĩa như thế nào? Có rất nhiều khái niệm có thể trích dẫn đó là “ Thuật ngữ đánh giá (Evaluation) là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các quá trình kiểm tra, lượng giá và được kết thúc bằng cách đối chiếu so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trước đó trong các mục tiêu”. Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin để lượng định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có hiệu quả. Đánh giá là quá trình mà qua đó ta quy ước cho đối tượng một giá trị nào đó.
Đánh giá là một hoạt động nhận định, xác nhận giá trị thực trạng về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc, trình độ, sự phát triển, những kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại đang xét so với những mục tiêu hay những chuẩn mực đã được xác lập. Như vậy ta có thể đưa ra kết luận rằng đánh giá chính là quá trình thu thập những thông tin liên quan về một đối tượng nào đó, sau đó so sánh đối chiếu những thông tin đó với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã quy định cho đối tượng này. Từ quá trình so sánh đó đưa ra kết luận về đối tượng, tức là đánh giá được đối tượng. Một tổ chức hay một doanh nghiệp muốn hoàn thành được mục tiêu của mình thì trước hết doanh nghiệp phải hoàn thành được mục tiêu ở các cấp độ thấp có sự tham gia đóng góp của các nhân viên cấp dưới.
Như vậy, hiệu quả làm việc của mỗi nhân viên cấp dưới có tác động trực tiếp tới việc thực hiện 7 z những mục tiêu chiến lược của tổ chức. Hệ thống đánh giá thực hiện công việc ở một tổ chức là cơ sở quan trọng cho bộ phận nhân sự vạch ra các chính sách liên quan đến nguồn nhân lực. Đồng thời là một cơ chế quan trọng để tổ chức tiến hành đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược của mình. Đánh giá thực hiện công việc được hiểu như thế nào, trong các tổ chức riêng biệt thì đánh giá thực hiện công việc lại được hiểu với một hàm nghĩa khác nhau và tổ chức đó sẽ tiến hành đánh giá thực hiện công việc của nhân viên theo hàm nghĩa được hiểu như vậy.
“ Đánh giá thực hiện công việc thường được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người (nhóm người) lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thỏa thuận về sự đánh giá đó với người lao động. Đây thực chất là việc so sánh tình hình thực hiện công việc của chính người (nhóm người) lao động so với yêu cầu đề ra của tổ chức.” [4, 211] Theo cách phân tích của tác giả thì đánh giá thực hiện công việc là một hoạt động có hệ thống , khi đánh giá thực hiện công việc thì người ta sẽ căn cứ vào các tiêu chí cụ thể đã được xây dựng và thiết lập từ trước, các tiêu chí này đã được tập thể thông qua. Việc thông qua này giúp tránh những định kiến chủ quan hoặc những thiếu sót khi thực hiện đánh giá tạo nên sự thống nhất và công bằng, đồng thời tránh phát sinh những mâu thuẫn do quá trình đánh giá gây ra. Khi đã có những tiêu chí này sẽ sử dụng chúng để so sánh với kết quả thực hiện công việc của nhân viên.
Để tránh gặp phải những mâu thuẫn phát sinh cũng có những thỏa thuận với người lao động để có đầy đủ những thông tin phục vụ cho việc đánh giá, tạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai bên đánh giá và bên được đánh giá, ngăn ngừa các tình huống xấu phát sinh nhằm đạt được mục tiêu của đánh giá. Đánh giá không chỉ là công việc đơn lẻ của một cá nhân người thực hiện, mà nó bao gồm cả một nhóm người, một tổ chức mà trong đó mọi người đều tham gia thiết lập nên một hệ thống hoàn chỉnh. “ Đánh giá thực hiện công việc thường được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ 8 z so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với người lao động” [10,134 - 135]. Đánh giá thực hiện công việc trong khái niệm này được hiểu là một hoạt động cũng mang tính hệ thống và dựa trên sự so sánh với các tiêu chuẩn đề ra từ trước.
Hệ thống đánh giá ở đây bao gồm các yếu tố cơ bản: - Các tiêu chuẩn thực hiện công việc, được dùng để xem xét so sánh đối chiếu thực hiện công việc. - Đo lường sự thực hiện công việc theo các tiêu thức trong tiêu chuẩn. Thông qua các phương pháp đánh giá để tiến hành đo lường khảo sát sự thực hiện công việc của nhân viên cấp dưới với các tiêu chuẩn đề ra ban đầu - Thông tin phản hồi đối với người lao động và bộ phận quản lý nguồn nhân lực. Qua các kết quả thu được từ quá trình đánh giá thực hiện công việc sẽ được trao đổi và bàn bạc cụ thể với nhân viên nhằm rút kinh nghiệm và hoàn thiện hơn công việc của người lao động.
“Đánh giá hiệu quả làm việc của nhân viên, hay đánh giá thực hiện công việc của nhân viên, hay đánh giá thành tích công tác của nhân viên là một hệ thống chính thức được xem xét và đánh giá theo một định kì. Hệ thống đánh giá chính thức là một hệ thống bao gồm tiến trình đánh giá khoa học, có bài bản và có tính hệ thống. Hệ thống đánh giá này phải được thực hiện định kỳ tùy theo tính chất của công việc và tùy theo mức độ kinh doanh và quy mô của công ty.” [2,186] Theo khái niệm này thì đánh giá thực hiện công việc của nhân viên được xem là hoạt động định kỳ để xem xét mức độ hoàn thành công việc chỉ tiêu công việc của nhân viên, đánh giá năng lực, thái độ làm việc của nhân viên. Bao gồm tất cả những hoạt động nhằm đánh giá một cách có hệ thống hiệu quả làm việc và năng lực của nhân viên trong đó có cả kết quả làm việc , những phẩm chất kĩ năng có liên quan đến công việc.
“Đánh giá thực hiện công việc được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng từ trước và có sự thảo luận về sự đánh 9 z giá đó với người lao động. Đánh giá có hệ thống nghĩa là đánh giá cả một thời kỳ làm việc của người lao động chứ không phải chỉ là một thời điểm nào đó trong quá trình làm việc của họ, có tổ chức bộ máy đánh giá, chọn lựa phương pháp đánh giá khoa học, phù hợp với đặc điểm, tính chất công việc của người lao động. Đánh giá chính thức có nghĩa là đánh giá công khai được ghi nhận bằng văn bản, có chu ký đánh giá thường là hàng tháng, ba tháng, 6 tháng, 1 năm hoặc kết thúc vào một giai đoạn thực hiện công việc. Có thảo luận lại và cung cấp thông tin phản hồi về kết quả đánh giá đối với người lao động.
Đánh giá thực hiện công việc chính là sự mô tả một cách có hệ thống những điểm mạnh, điểm yếu hay quá trình thực hiện nhiệm vụ lao động của từng cá nhân người lao động dựa trên sự so sánh với các tiêu chuẩn thực hiện công việc đã được xây dựng từ trước (chính là tiêu chuẩn thực hiện công việc). Đánh giá thực hiện công việc sẽ bao gồm các nội dung cơ bản sau: - Đánh giá thành tích cá nhân trong việc thực hiện công việc - Đánh giá việc chấp hành các quy định của tổ chức, của người lao động trong quá trình thực hiện công việc - Đánh giá tính hợp lý của các tiêu chí lao động và các quy định lao động. Đánh giá thực hiện công việc của nguồn nhân lực trong tổ chức công là sự đánh giá có hệ thống và chính thức kết quả thực hiện công việc của nhân viên, đánh giá năng lực chuyên môn nghiệp vụ, đánh giá tiềm năng, đánh giá động cơ làm việc của nhân viên trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng hoặc so sánh với các mục tiêu đã đặt ra, hoặc so sánh vơi các nhân viên khác cùng thực hiện công việc đó trong những điều kiện tương tự và có sự thảo luận với người loa động về kết quả đánh giá đó [8, 144]. Dù trong bất cứ tổ chức nào thì đánh giá thực hiện công việc vẫn luôn được xem là một quá trình mang tính hệ thống.
Là sự so sánh đối chiếu giữa những mục tiêu đặt ra ban đầu với quá trình thực hiện công việc của nhân viên mang lại những kết quả cuối cùng. Đánh giá thực hiện công việc là sự đo lường một cách chính thống, chính thức và công khai kết quả thực hiện công việc so với các tiêu chuẩn đề ra. Kết quả đo lường phải được lượng hóa bằng điểm số, liệt kê các 10 z sự kiện hoặc so sánh thực hiện công việc của các cá nhân.