Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam đã thụ lý 4.572 vụ án với 7.790 bị cáo, đưa ra xét xử 4.203 vụ với 7.035 bị cáo, trong đó có 386 vụ án với 519 bị cáo là người dưới 18 tuổi (chiếm 9,18% số vụ và 7,37% số bị cáo). Riêng tại thành phố Hội An – một đô thị cổ có diện tích tự nhiên 60 km2 với tốc độ đô thị hóa nhanh và ngành dịch vụ, du lịch chiếm tới 69,82% cơ cấu kinh tế năm 2016 – tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật hình sự diễn biến ngày càng phức tạp. TAND thành phố Hội An đã xét xử sơ thẩm 37 vụ án với 47 bị cáo dưới 18 tuổi, chiếm tỷ lệ 14,39% tổng số vụ án hình sự thụ lý. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm thế nào để việc áp dụng chế tài hình sự vừa đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, vừa quán triệt triệt để nguyên tắc nhân đạo, bảo đảm sự phát triển toàn diện cho người chưa thành niên. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, rà soát hệ thống quy định pháp luật và phân tích toàn diện thực tiễn quyết định hình phạt của Tòa án địa phương trong giai đoạn 2012-2017. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các bản án hình sự sơ thẩm có bị cáo từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi trên địa bàn thành phố Hội An. Ý nghĩa của công trình thể hiện qua việc đánh giá tính tương thích giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015, cung cấp căn cứ thực chứng giúp hạ tỷ lệ áp dụng hình phạt tù giam từ mức 78,72% xuống mức hợp lý, đồng thời nâng cao tỷ lệ áp dụng các biện pháp giáo dục, chuyển hướng tại cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết nhân đạo hóa và cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự Việt Nam, kết hợp cùng lý thuyết tư pháp phục hồi đối với người chưa thành niên. Cơ sở pháp lý quốc tế được đối chiếu trực tiếp từ Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 và Quy tắc tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng chính sách pháp luật đối với người dưới 18 tuổi (Quy tắc Bắc Kinh năm 1985). Các khái niệm chính cấu thành mô hình nghiên cứu bao gồm: Người dưới 18 tuổi phạm tội (người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế do đặc điểm tâm sinh lý); Áp dụng hình phạt (hoạt động tư pháp của Tòa án nhằm lựa chọn loại và mức chế tài luật định); Biện pháp tư pháp giám sát, giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; và Nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và hồ sơ xét xử lưu trữ tại TAND thành phố Hội An trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2017. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 37 vụ án hình sự sơ thẩm với 47 bị cáo là người dưới 18 tuổi được đưa ra xét xử tại thành phố Hội An, kết hợp tập dữ liệu đối chứng gồm 386 vụ án và 519 bị cáo trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Nam. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với các bản án sơ thẩm có đối tượng nghiên cứu nhằm loại bỏ sai số chọn mẫu và phản ánh trọn vẹn bức tranh thực tiễn xét xử tại địa phương. Phương pháp phân tích dữ liệu tích hợp giữa thống kê mô tả, phân tích tổng hợp quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu BLHS năm 1999 sửa đổi năm 2009 với BLHS năm 2015) và phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm vừa lượng hóa chính xác các chiều hướng biến động của cơ cấu tội phạm, vừa mổ xẻ tường tận các phán quyết tư pháp để chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của những sai sót trong việc định khung và cá thể hóa hình phạt. Timeline nghiên cứu được triển khai thực hiện từ năm 2017 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện tại thành phố Hội An tập trung chủ yếu vào các tội danh xâm phạm sở hữu và xâm phạm sức khỏe, với 3 tội danh chính chiếm 83,78% số vụ (31/37 vụ) và 82,97% số bị cáo (39/47 bị cáo). Cụ thể, tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ cao nhất với 21 vụ/25 bị cáo (chiếm 56,76% số vụ), tiếp theo là tội cướp tài sản với 06 vụ/07 bị cáo (chiếm 16,22% số vụ), và tội cố ý gây thương tích với 04 vụ/07 bị cáo (chiếm 10,81% số vụ).

Thứ hai, cơ cấu loại hình phạt được áp dụng phản ánh sự mất cân đối rõ rệt khi hình phạt tù giam chiếm tỷ lệ áp đảo 78,72% (37/47 bị cáo). Ngược lại, việc áp dụng án treo chỉ đạt 10,63% (5/47 bị cáo), biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đạt 4,2% (2 bị cáo), cải tạo không giam giữ đạt 4,2% (2 bị cáo), đưa vào trường giáo dưỡng đạt 2,1% (1 bị cáo), và hoàn toàn không có trường hợp nào được áp dụng hình phạt cảnh cáo hay phạt tiền (0%).

Thứ ba, tỷ lệ bản án sơ thẩm giữ nguyên hiệu lực pháp luật khi xét xử phúc thẩm đạt 97,3% (36/37 vụ), khẳng định năng lực xét xử cơ bản vững vàng của đội ngũ thẩm phán địa phương. Tuy nhiên, sai sót chuyên môn vẫn xảy ra ở mức 2,7% số vụ (01 vụ/01 bị cáo bị cấp phúc thẩm sửa án), chủ yếu bắt nguồn từ việc áp dụng không đúng tình tiết định khung hình phạt và nhầm lẫn giữa tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu với hành vi phạm tội nhiều lần.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ phạt tù giam chiếm tới 78,72% phản ánh nhận thức của một bộ phận người tiến hành tố tụng vẫn còn nặng về trừng trị hơn giáo dục, kết hợp với sự thiếu hụt cơ sở vật chất và quy trình quản lý đối với các hình phạt không giam giữ tại địa phương. Về mặt kinh tế - xã hội, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Hội An với thu nhập bình quân đầu người tăng từ 32,98 triệu đồng năm 2015 lên 36,78 triệu đồng năm 2016 đã làm xuất hiện nhiều loại hình giải trí phức tạp, kéo theo tình trạng người chưa thành niên liên kết thành nhóm phạm tội (tỷ lệ bình quân 1,27 bị cáo/vụ). Khi so sánh với tỷ lệ chung của toàn tỉnh Quảng Nam (9,18% số vụ), tỷ lệ người dưới 18 tuổi phạm tội tại Hội An (14,39%) cao hơn 5,21%, cho thấy tính chất đặc thù của địa bàn du lịch trọng điểm.

Để tối ưu hóa việc phân tích và theo dõi, toàn bộ dữ liệu thực tiễn có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ trọng các loại chế tài hình sự (làm nổi bật khoảng cách giữa 78,72% tù giam và 10,63% án treo), kết hợp bảng số liệu thống kê chéo và biểu đồ cột so sánh diễn biến thụ lý qua từng năm từ 2013 đến 2017. Điển hình như vụ án Nguyễn B điều khiển xe mô tô gây tai nạn giao thông tại Hội An (Bản án sơ thẩm số 35/2013/HSST tuyên phạt 18 tháng tù giam, sau đó Bản án phúc thẩm số 122/2013/HSPT đã sửa thành 18 tháng tù cho hưởng án treo do bị cáo có nhân thân tốt, đang đi học và đã khắc phục hậu quả), cho thấy tính cấp thiết của việc cá thể hóa hình phạt một cách toàn diện và chính xác hơn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành nghị quyết liên tịch hướng dẫn cụ thể tiêu chí định lượng về nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi, cũng như điều kiện áp dụng phạt tiền và cải tạo không giam giữ, hướng tới mục tiêu hoàn thành 100% văn bản hướng dẫn nghiệp vụ trước quý IV năm 2019.

Thứ hai, đổi mới công tác bồi dưỡng kỹ năng xét xử và kiến thức tâm lý học tư pháp cho đội ngũ cán bộ Tòa án. TAND tỉnh Quảng Nam và TAND thành phố Hội An cần chủ trì tổ chức định kỳ 02 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm về tâm lý lứa tuổi vị thành niên và kỹ năng điều hành phiên tòa thân thiện, đặt mục tiêu kéo giảm tỷ lệ áp dụng hình phạt tù giam đối với người chưa thành niên xuống dưới 50% trong giai đoạn 2019-2022.

Thứ ba, nâng cao năng lực phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Các cơ quan tiến hành tố tụng thành phố Hội An cần bảo đảm chỉ định người bào chữa hoặc trợ giúp viên pháp lý cho 100% bị can, bị cáo dưới 18 tuổi ngay từ thời điểm lấy lời khai đầu tiên, hoàn tất chuẩn hóa quy trình phối hợp bảo vệ quyền trẻ em trong năm 2019.

Thứ tư, thiết lập mạng lưới giám sát và giáo dục chuyển hướng tại cộng đồng. Ủy ban nhân dân thành phố Hội An phối hợp với Đoàn Thanh niên và Hội Liên hiệp Phụ nữ xây dựng mô hình liên kết quản lý người chưa thành niên lầm lỗi tại 13 xã, phường, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường và cải tạo không giam giữ lên mức 20-25% tổng số vụ án có người dưới 18 tuổi phạm tội trước năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án: Tài liệu cung cấp dữ liệu thực tiễn từ 47 hồ sơ vụ án cùng các phân tích chi tiết về sai sót định khung hình phạt, giúp cán bộ xét xử áp dụng chuẩn xác các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015, gia tăng tỷ lệ tuyên án treo và các biện pháp tư pháp thay thế tù giam.

Thứ hai, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Trợ giúp viên pháp lý: Công trình hỗ trợ các chức danh tư pháp nắm vững 6 nguyên tắc xử lý hình sự người chưa thành niên, vận dụng hiệu quả các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự tại Điều 91 BLHS năm 2015 trong 100% các giai đoạn điều tra, truy tố.

Thứ ba, Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự: Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo giàu giá trị thực nghiệm với tập dữ liệu khảo sát 5 năm (2013-2017) tại một đô thị du lịch đặc thù, phục vụ hiệu quả cho công tác giảng dạy và phát triển các công trình khoa học chuyên sâu về tư pháp người chưa thành niên.

Thứ tư, Cán bộ quản lý Nhà nước, Lực lượng Công an cơ sở và Cán bộ Đoàn Thanh niên: Kết quả nghiên cứu giúp chính quyền 09 phường và 04 xã thuộc thành phố Hội An xây dựng các chương trình phòng ngừa vi phạm pháp luật học đường và thiết lập mô hình hỗ trợ thanh thiếu niên tái hòa nhập cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Loại hình phạt nào được Tòa án nhân dân thành phố Hội An áp dụng nhiều nhất đối với người dưới 18 tuổi?
Trong giai đoạn 2013-2017, hình phạt tù có thời hạn chiếm tỷ lệ cao nhất với 78,72% tổng số bị cáo (37/47 bị cáo). Tỷ lệ này từng đạt mức 88,88% vào năm 2014 và duy trì ở mức 80% trong các năm 2015 và 2016, phản ánh xu hướng các bản án sơ thẩm tại địa phương vẫn còn ưu tiên việc cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Câu hỏi 2: Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự có điểm gì mới nổi bật so với trước đây?
Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã giới hạn cụ thể phạm vi trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vào 28 tội danh cụ thể thuộc loại tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thay vì quy định bao quát như Bộ luật Hình sự năm 1999, giúp nâng cao hiệu quả phân hóa tội phạm.

Câu hỏi 3: Vì sao hình phạt tiền và cải tạo không giam giữ rất ít khi được áp dụng cho người dưới 18 tuổi tại Hội An?
Trong suốt 5 năm, TAND thành phố Hội An chỉ áp dụng 02 trường hợp cải tạo không giam giữ (chiếm 4,2%) và 0 trường hợp phạt tiền. Lý do chủ yếu là người dưới 18 tuổi hiếm khi có tài sản riêng hoặc thu nhập độc lập theo Điều 99 BLHS 2015, đồng thời hệ thống giám sát ngoài trại giam tại cơ sở chưa hoàn thiện.

Câu hỏi 4: Những trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội nào được coi là đương nhiên không có án tích?
Căn cứ Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội, người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý, và người bị áp dụng biện pháp tư pháp tại trường giáo dưỡng đều được coi là không có án tích.

Câu hỏi 5: Mức phạt tù cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội được luật quy định như thế nào?
Theo Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu điều luật quy định tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không được quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức tối đa không quá một phần hai mức phạt mà điều luật quy định.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và 6 nguyên tắc nhân đạo cốt lõi khi xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi theo định hướng cải cách tư pháp hiện đại.
  • Khảo sát thực chứng 37 vụ án với 47 bị cáo tại thành phố Hội An giai đoạn 2013-2017, chỉ rõ sự mất cân đối khi hình phạt tù giam chiếm tới 78,72% tổng số chế tài áp dụng.
  • Nhận diện chính xác các sai sót về định khung hình phạt và đánh giá nhân thân trong thực tiễn xét xử sơ thẩm, với tỷ lệ bản án bị cấp phúc thẩm sửa chữa chiếm 2,7% số vụ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, kết hợp hoàn thiện thể chế pháp luật, bồi dưỡng chuyên môn Thẩm phán và phát triển mạng lưới tư pháp phục hồi tại cộng đồng.
  • Định hình lộ trình giải pháp trong giai đoạn 2018-2025 nhằm giảm tỷ lệ hình phạt tù giam xuống dưới 50% và mở rộng các biện pháp giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên hoàn lương.

Đóng góp chính của luận văn là việc kết hợp chặt chẽ giữa luận cứ khoa học luật hình sự và tập dữ liệu thực tiễn đặc thù tại một đô thị du lịch trọng điểm. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ tư pháp có thể khai thác các kết quả và mô hình đề xuất trong công trình này để phục vụ nghiên cứu học thuật cũng như hoàn thiện thực tiễn xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội tại Việt Nam.