Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG LĨNH VỰC TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI 1. Khái niệm, đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội 1. Người chưa thành niên Đã có nhiều văn bản quốc tế về quyền con người của trẻ em, của người chưa thành niên ra đời trong hơn nửa thế kỷ qua. Đồng thời, việc tăng cường bảo vệ các quyền của trẻ em cũng là một khía cạnh quan trọng trong hoạt động của các cơ quan và chương trình của Liên Hợp Quốc (LHQ).
Trong các văn bản quốc tế và các chương trình của LHQ về vấn đề trẻ em sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em xác định rõ: "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn". Trong một số văn bản, khái niệm trẻ em được gọi là người chưa thành niên hoặc thanh, thiếu niên. Tuy nhiên, trong quan hệ với pháp luật và thực thi pháp luật, trẻ em thường được gọi là người chưa thành niên: - Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn".
- Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 nêu cụ thể: "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”. Dựa trên những quy định của luật pháp quốc tế về người chưa thành niên, các quốc gia trên thế giới đã đưa ra các quy định về người chưa thành niên nói 8 chung, người chưa thành niên phạm tội nói riêng, các chế tài xử lý người chưa thành niên phạm tội phù hợp với điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội, phong tục, tập quán, pháp luật của mỗi nước. Chẳng hạn như: Như vậy người chưa thành niên là những người chưa trưởng thành do họ còn non nớt về thể chất và trí tuệ. Do đó, người chưa thành niên cần được đối xử khác với cách đối xử dành cho người đã thành niên và cần được gia đình, xã hội và Nhà nước bảo vệ, chăm sóc đặc biệt.
Quan điểm, chính sách cơ bản này đã được thể hiện trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam cũng như trong một số luật quan trọng ở cả hệ thống hành chính và hình sự. Theo đó, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi. Tất cả các văn bản pháp luật đó đều quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế định pháp luật đối với người chưa thành niên trong từng lĩnh vực cụ thể.
Tóm lại: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. * Đặc điểm của người chưa thành niên Việc tìm hiểu đặc điểm người chưa thành niên là điều quan trọng đối với cơ quan pháp luật nói chung, và các cơ quan tiến hành xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên nói riêng. Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Chính vì vậy mà họ có những đặc điểm riêng về tâm lý và các nghiên cứu khoa học về tâm lý học đã phân tích rõ các đặc điểm này, đó là: - Về trạng thái cảm xúc 9 Người chưa thành niên là người đang trong quá trình phát triển cả về sinh lí, tâm lí và ý thức.
Đây là giai đoạn diễn ra những biến cố rất đặc biệt, đó là sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc của người chưa thành niên. Trên thực tế, trạng thái thần kinh, trạng thái cảm xúc không cân bằng có thể là yếu tố gây nên các hành vi lệch chuẩn. Có không ít trường hợp, do xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ, nhưng không kiềm chế được sự nóng giận quá khích mà người chưa thành niên đã phạm phải hành động sai lầm, thậm chí là thực hiện hành vi phạm tội. - Về nhận thức pháp luật Có thể nói, lứa tuổi chưa thành niên là giai đoạn phát triển về mặt sinh học nhưng lại thiếu cân đối về mặt trí tuệ.
Đó là lứa tuổi mà kinh nghiệm trong cuộc sống còn quá ít ỏi, đặc biệt là khả năng nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế. Một phần không nhỏ người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu, hứng thú không đúng đắn của cá nhân, không quan tâm đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Chỉ khi được giải thích, phân tích thì các em mới hiểu rằng hành vi của mình là phạm tội. - Về nhu cầu độc lập Nhu cầu độc lập có thể được hiểu là việc cá nhân tự hành động và tự ra quyết định theo ý kiến riêng mà không muốn bị ảnh hưởng của người khác.
Nhưng chúng ta cũng cần lưu ý rằng, nhu cầu độc lập không chỉ có mặt tích cực mà còn có mặt tiêu cực nếu một khi nó phát triển theo hướng thái quá. Đặc biệt, ở lứa tuổi chưa thành niên, nhu cầu độc lập thái quá thường biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các hành vi như ngang bướng, cố chấp, dễ tự ái, gây gổ, phô trương. Tất cả những hành vi này của người chưa thành niên đều mang tính chất của hành vi lệch chuẩn, dễ dẫn tới các hành vi phạm tội. - Về nhu cầu khám phá cái mới Tìm hiểu, khám phá cái mới là một trong những nhu cầu của các em ở lứa tuổi chưa thành niên.
Tuy vậy, sự tò mò và khám phá cái mới cũng có thể trở thành một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em, nếu các em 10 thiếu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của gia đình, xã hội, không tự chủ được bản thân và không phân biệt được phải trái, đúng sai. Như đã phân tích trên, điểm đặc thù của người chưa thành niên là sự hạn chế về nhận thức, do vậy việc xử lý họ chủ yếu nhằm giáo dục, qua đó giúp họ nhận thức được sai lầm và tuân thủ quy định của pháp luật. Và xuất phát từ những đặc điểm khác biệt về thể chất và tinh thần của người chưa thành niên so với người trưởng thành mà pháp luật xử lý vi phạm hành chính có quy định riêng đối với người chưa thành niên vi phạm. Người chưa thành niên vi phạm hành chính Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, VPHC thường được hiểu một cách chung nhất là hành vi vi phạm các quy tắc quản lý của Nhà nước nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tục hành chính do những người có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính Nhà nước tiến hành mà không phải là cơ quan Tòa án với các thủ tục tư pháp.
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “VPHC” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt VPHC ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “VPHC là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật. Theo Pháp lệnh xử lý VPHC năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 thì khái niệm VPHC không được định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa “lẩn” vào trong khái niệm “xử lý VPHC”, nếu trích dẫn từ định nghĩa về “xử lý VPHC” được quy định tại khoản 2 Điều 1 xử lý VPHC năm 2002 thì VPHC được hiểu là “hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”. Luật xử lý VPHC 2012 quy định “VPHC là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy 11 định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC”.
Về ngôn ngữ thể hiện, có thể thấy có đôi chút khác nhau giữa định nghĩa về VPHC được quy định trong các Pháp lệnh về xử phạt/xử lý VPHC 1989, 1995 và 2002, 2012, tuy nhiên về bản chất hành vi VPHC thì các định nghĩa trong các văn bản pháp luật này, về cơ bản, không có gì khác nhau. VPHC có 04 dấu hiệu cơ bản sau đây: Thứ nhất, VPHC là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước; tác hại (tính nguy hiểm) do hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt VPHC. Đây chính là dấu hiệu “pháp định” của vi phạm. Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện (hành động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu “vật chất” của vi phạm.
Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây là dấu hiệu xác định“chủ thể” của vi phạm.