mở đầu cho cuộc Chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh này đã diễn ra theo tư tưởng và mục tiêu của Mỹ mà học thuyết Truman đã vạch ra. Mục tiêu của Chiến tranh lạnh do Mỹ phát động là Mỹ tiến tới lãnh đạo thế giới tự do chống lại sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản, chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội không cho lan ra các khu vực khác. Trong những năm 1947 - 1949, Mỹ thi hành “chính sách ngăn chặn” nhằm ngăn chặn “sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản”, rồi tiến tới tiêu diệt nó. Mỹ cho rằng, Liên Xô bị suy yếu trong Chiến tranh thế giới thứ hai, kiệt quệ cả về vật chất và tinh thần, chỉ cần đặt trước Liên Xô một lực lượng mạnh trong vòng 10 - 15 năm, Liên Xô sẽ tự bị tiêu diệt và sẽ ngăn chặn được chủ nghĩa cộng sản, ngăn chặn được 4 http://doc.vn/tai-lieu/giao-an-su-12-nuoc-mi-15252/, cập nhật ngày 1/6/2013 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khuynh hướng xâm lược của người Nga.
Để thực hiện “chính sách ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản, Mỹ đã xúc tiến việc chia cắt nước Đức và Triều Tiên. Sự ra đời của hai khối quân sự lớn nhất toàn cầu do Mỹ và Liên Xô đứng đầu, đối địch nhau, đều chạy đua vũ trang, trang bị những vũ khí hiện đại để tăng cường sức mạnh của khối mình, đã làm cho tình hình thế giới càng căng thẳng. Hai bên tiếp tục chạy đua vũ trang, thi nhau chế những vũ khí và trang thiết bị hiện đại. Cuộc chạy đua vũ trang lên tới đỉnh cao vào những năm 60 của thế kỷ XX.
Hai bên Xô - Mỹ đã có một kho vũ khí hạt nhân khổng lồ. Theo ước tính của những nhà quân sự thì chỉ cần phóng một nửa số kho vũ khí hạt nhân của Mỹ hoặc của Liên Xô, cũng đủ hủy diệt toàn bộ sự sống con người và nền văn minh nhân loại. Nhưng ngay sau đó, cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Mỹ chuyển sang trạng thái hòa hoãn, hợp tác giải trừ quân bị. Động thái này có dấu hiệu từ năm 1969.
Lý do Mỹ đang sa lầy ở Việt Nam, muốn thoát khỏi tình trạng đó, những dấu hiệu sa sút nền kinh tế; Liên Xô cũng có nhiều khó khăn về kinh tế, đặc biệt là vấn đề mối quan hệ giữa hai miền của nước Đức, cuộc xung đột biên giới Liên Xô - Trung (từ tháng 3 đến tháng 6 - 1969). Tình hình đó buộc hai nước Mỹ - Xô phải chuyển sang hòa hoãn, tìm sự nhân nhượng của nhau. Tuy nhiên, sự hòa hoãn này bị chấm dứt khoảng cuối năm 1980, khi Roonan Rigân trúng cử Tổng thống Mỹ. Rigân lên cầm quyền trong bối cảnh tình hình thế giới có những sự kiện lớn và đang diễn ra bất lợi cho Mỹ: Vừa thất bại trong cuộc chiến ở Việt Nam cách đó không lâu, đến năm 1979, Mỹ lại thất bại ở Iran,… tình hình đó làm địa vị của Mỹ bị giảm sút trên thế giới.
Trong khi đó, Liên Xô lại đưa quân vào Apganixtan, Liên Xô còn làm hậu thuẫn cho Ba Lan để chính phủ nước này tuyên bố “tình trạng chiến tranh” nhằm trấn áp các thế lực đối lập ở Ba Lan (từ ngày 13 – 12 - 1981). 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước tình hình đó, Rigân phản ứng quyết liệt bằng việc thực hiện chạy đua vũ trang mạnh mẽ nhằm phá thế cân bằng về chiến lược quân sự với Liên Xô, khôi phục lại vị trí đứng đầu về quân sự. Cuộc chạy đua vũ trang lớn trong lịch sử giữa hai nước Liên Xô lại diễn ra suốt từ năm 1980 đến năm 1987. Từ năm 1980 đến năm 1986, ngân sách quân sự tăng 50%, sau đó có giảm đi chút ít.
Năm 1982, ngân sách quân sự của Mỹ chiếm 7,4% tổng sản phẩm quốc gia (GNP)5. Tháng 11 - 1983, Rigân cho triển khai tên lửa tầm trung “Pershing” và “Cruise” ở cộng hòa Liên bang Đức, Bỉ, Hà Lan và một số nước châu Âu khác hướng vào Liên Xô và Đông Âu. Ngày 23 tháng 3 năm 1983, Rigân lại đề ra kế hoạch “Chiến tranh giữa các vì sao” (SDI) với chi phí lên tới 26 tỉ USD trong 5 năm. Để chống lại các hành động của Liên Xô, Rigân tiến hành giải tỏa các điều luật của Quốc hội về hạn chế quyền chủ động của Tổng thống.
Do đó, Tổng thống hoàn toàn chủ động tiền hành các chiến dịch ở Grênađa (1983), ở Libi (1986) và cung cấp vũ khí cho quân nổi loạn ở Apganixtan. Ở vùng Trung Cận Đông, Rigân tiến hành một loạt những biện pháp để giữ vững vị trí của họ ở khu vực này: Thiết lập một loạt căn cứ quân sự ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Ôman,… thành lập“lực lượng phản ứng nhanh” (RDF) gồm 11.000 người6… Tuy nhiên, khi Goobachốp lên nắm chính quyền ở Liên Xô, quan hệ Xô - Mỹ bắt đầu có những biến chuyển khác trước, tình hình quan hệ giữa hai nước từng bước chuyển sang hòa dịu. Bối cảnh quốc tế Âu - Mỹ từ sau kết thúc chiến tranh lạnh đến nay Từ nửa sau thập niên 80, sau khi M. Goócbachốp lên cầm quyền ở Liên Xô, quan hệ Xô - Mỹ đã thực sự chuyển từ đối đầu sang đối thoại để giải quyết những vấn đề trong quan hệ giữa hai nước và quan hệ quốc tế.
Quá trình đàm phán cắt giảm vũ 5 http://text.vn/document/1577061-su-hinh-thanh-va-sup-do-cua-trat-tu-hai-cuc-ianta.htm, cập nhật 29/6/2014 6 http://nxb.php?page=news&uid=118&news_id=504, cập nhật ngày 16/4/2011 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khí chiến lược tấn công trải qua chặng đường dài đầy khó khăn, cuối cùng cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, tạo cơ sở quan trọng cho việc kết thúc cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới. Ngày 2 - 12 - 1989, tại Manta, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Liên Xô, Goócbachốp và Tổng thống Mỹ G. Bush đã có cuộc gặp gỡ không chính thức. Trong cuộc gặp này, hai bên đã chính thức tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh giữa hai nước, đồng thời cũng chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt làm cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng trong suốt hơn 40 năm qua.
Trong những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, những biến động chính trị to lớn đã diễn ra ở Liên Xô và Đông Âu. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô do Goócbachốp khởi xướng đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng, gây ra tình trạng hỗn loạn về chính trị và làm cho nền kinh tế Liên Xô ngày càng trì trệ hơn. Những nhân tố đó là tiền đề cho sự tan vỡ không thể tránh khỏi của Nhà nước liên bang. Ngày 21 - 12 - 1991, Liên Xô tuyên bố giải thể, 15 nước Cộng hoà trở thành các quốc gia độc lập.
Ở Đông Âu, từ thập niên 80, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũng tiến hành chính sách cải cách với những mức độ khác nhau. Công cuộc cải tổ ở Liên Xô đã tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế, chính trị Đông Âu. Trong khi đó, các nước phương Tây đã lợi dụng tình hình khó khăn của các nước Đông Âu để gây ảnh hưởng về kinh tế, chính trị ở khu vực này. Cũng với những sai lầm chủ quan trong chính quá trình cải cách ở Đông Âu, những nhân tố khách quan nêu trên đã góp phần dẫn tới sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu.
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã dẫn tới sự giải thể của khối quân sự Vácxava (7 - 1991) và Hội đồng tương trợ kinh tế SEV (6 - 1991). Trật tự hai cực Ianta không còn nữa. Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đổ, trật tự thế giới tồn tại gần nửa thế kỷ đã bị phá vỡ, cục diện thế giới và quan hệ chính trị quốc tế thay đổi về cơ bản, dẫn đến 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình thành trật tự thế giới mới và tập hợp lực lượng mới. Trước hết, đó là sự điều chỉnh chiến lược đối ngoại của các nước lớn nhằm giành vị trí xứng đáng trong quan hệ quốc tế.
Tất cả các nước khác cũng đều tìm cách tác động một cách có lợi nhất cho mình vào quá trình thiết lập trật tự thế giới mới. Từ sự đa dạng về lợi ích của các chủ thể quan hệ quốc tế đã hình thành nhiều mối quan hệ song phương và đa phương, làm cho tình hình thế giới càng thêm phức tạp. Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự hai cực Ianta giải thể với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu. So sánh lực lượng trên bình diện toàn cầu từ chỗ cân bằng giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập nay chuyển sang trạng thái mất cân bằng theo hướng có lợi cho Mỹ và phương Tây.
Tuy nhiên, tình hình quốc tế đã không phát triển một cách hoà bình, ổn định như người ta mong đợi. Sự đối đầu Đông - Tây về hệ tư tưởng, chính trị, quân sự, kinh tế…đã từng chi phối đời sống quốc tế trong suốt thời kì Chiến tranh lạnh, nay được chuyển hoá dưới những hình thức khác, bên cạnh sự nổi lên của những mâu thuẫn mới. Sự vận động của các mâu thuẫn này sẽ quyết định diện mạo của trật tự thế giới và xu hướng phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh. Trước hết, đó là mâu thuẫn giữa các nước lớn xung quanh việc thiết lập một trật tự thế giới mới.
Khác với các trật tự thế giới trước đây thường được thiết lập ngay sau khi Chiến tranh kết thúc, trật tự thế giới mới đã không thể ra đời ngay sau khi Liên Xô tan rã. Mặc dù Tổng thống Mỹ G. Bush (cha), năm 1991 đã tuyên bố về một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ chi phối, nhưng thực tế lịch sử đã không diễn ra theo ý muốn của Mỹ. Liên Xô tan rã nhưng Liên bang Nga vẫn tiếp tục tồn tại với tiềm lực quân sự kế thừa Liên Xô cũ và không phải là một cường quốc bại trận để chấp nhận một trật tự thế giới do Mỹ áp đặt.
Các trung tâm kinh tế, các cường quốc khu vực như Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc… không ngừng lớn mạnh và cố gắng tạo cho mình một vị thế đáng kể để chia sẻ quyền lực chi phối đời sống chính trị quốc tế. Trong lúc 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các cường quốc đang nổi lên thì Mỹ vẫn là một siêu cường, một cường quốc vượt trội và là cường quốc duy nhất có ảnh hưởng ở cấp độ toàn cầu.