Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khả năng sinh sản của gia cầm 1. Cơ sở khoa học của năng suất trứng Sinh sản là một quá trình để tạo ra thế hệ sau, sự phát triển hay hủy diệt của một loài, trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó.
Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các chỉ tiêu về năng suất trứng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở. Đối với các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản của chúng cũng rất khác nhau. Năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra của một gia cầm mái trong một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục.
Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và cũng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng là một tính trạng số lượng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng sớm, do đó trong chăn nuôi gà sinh sản người ta thường quan tâm đến việc cho gà ăn hạn chế trong các giai đoạn cuối gà con, giai đoạn gà dò - hậu bị để đảm bảo cho năng suất trứng cao trong giai đoạn đẻ trứng. Theo Bùi Thị Oanh, (1996) thì năng suất trứng còn phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của thức ăn, đặc biệt là mức năng lượng trao đổi, hàm lượng protein và các axit amin thiết yếu trong khẩu phần thức ăn của gia cầm sinh sản. Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, nhưng lại dao động lớn.
Nguyễn Văn Thiện, (1995) cho biết hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 - 0,3. Đối với tính trạng năng suất trứng, để cải thiện năng suất cần áp dụng phương pháp lai, kết hợp với chọn lọc cá thể, nếu chỉ áp dụng chọn lọc thì việc nâng cao năng suất trứng ít có hiệu quả. Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng có liên quan chặt chẽ với nhau, tỷ lệ đẻ trứng được tính theo tuần, tháng, năm, đó cũng thể hiện cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian. Cường độ đẻ trứng phụ thuộc vào độ dài của chu kỳ đẻ trứng, chu kỳ 4 đẻ trứng chính là thời gian gia cầm đẻ liên tục không bỏ ngắt quãng còn được gọi là trật đẻ.
Cường độ đẻ trứng có tương quan dương và chặt chẽ với sản lượng trứng ấy là tính trạng có hệ số di truyền cao, thường được sử dụng để chọn lọc nâng cao năng suất trứng. (Wegner, 1980) cho biết hệ số di truyền về cường độ đẻ trứng của gà vào loại cao h2 = 0,66. Chất lượng trứng Trứng gia cầm gồm 3 phần cơ bản đó là vỏ trứng, lòng đỏ và lòng trắng. Vương Đống, (1968) cho biết tỷ lệ các phần so với khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%; lòng trắng 57- 60%; lòng đỏ 30 - 32%.
Thành phần hóa học của trứng không vỏ: nước chiếm 73,5 - 74,4% ; protein 12,5 - 13%; mỡ 11 - 12%; khoáng 0,8 - 1,0%. - Chỉ số hình thái: Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình thái của trứng là một chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng, đặc biệt là trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều cho tỷ lệ ấp nở thấp. Trứng của mỗi giống gia cầm đều có chỉ số hình thái riêng. Chỉ số hình thái của trứng gà biến thiên từ 1,34 - 1,36; chỉ số này ở gà Ri là 1,30 và gà Ri lai (Ri x Sasso x Lương Phượng) là 1,32 (Nguyễn Bá Mùi và Phạm Kim Đăng, 2016), gà Đông Tảo là 1,31 và gà F1 (Đông Tảo x Lương Phượng) là 1,34.
Trứng gà Tam Hoàng có chỉ số hình thái trứng trung bình 1,24 - 1,39 cho kết quả ấp nở cao hơn so với nhóm trứng có chỉ số hình thái nằm ngoài biên độ này (Nguyễn Văn Duy và cs, 2020); (Nguyễn Quý Khiêm, 2003). - Độ dày và độ bền vỏ trứng: độ dày, độ bền hay độ chịu lực của vỏ trứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng đối với trứng gia cầm, có ảnh hưởng tới kết quả ấp nở và bao gói vận chuyển, nó phụ thuộc vào giống, tuổi, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và nhiệt độ chuồng nuôi, tuổi già hay stress đều làm giảm độ dày và sức bền vỏ trứng. Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đã bóc lớp màng vỏ dai trắng. Độ dày vỏ trứng có tương quan dương với độ bền và ảnh hưởng đến kết quả ấp nở, thường trứng có vỏ quá dày hoặc quá mỏng đều cho tỷ lệ nở kém.
Vỏ trứng quá dày làm hạn chế sự bốc hơi nước của trứng, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở. Nếu vỏ trứng quá mỏng làm quá trình bay hơi nước diễn ra nhanh, khối lượng trứng giảm nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, gia cầm con nở ra yếu và tỷ lệ chết cao, độ dày lý tưởng của vỏ trứng từ 0,26 - 0,34 mm. 5 Ngoài ra độ dày vỏ trứng còn chịu ảnh hưởng của môi trường như thức ăn, tuổi gà, nhiệt độ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác. - Chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh: Khi đánh giá chất lượng trứng giống cũng như trứng thương phẩm người ta đặc biệt quan tâm đến chỉ tiêu này, các chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ nở càng cao.
Chỉ số lòng đỏ: chất lượng lòng đỏ được xác định bởi chỉ số lòng đỏ, mà chỉ số này là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ với đường kính của nó. Chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi nằm giữa 0,4 - 0,42. Trứng có chỉ số lòng đỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt. Chỉ số lòng trắng là chỉ tiêu đánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính lớn và đường kính nhỏ của nó, chỉ số này lớn thì chất lượng lòng trắng càng cao.
Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế độ nuôi dưỡng. Đơn vị Haugh được sử dụng để đánh giá chất lượng trứng, phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng đặc. Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt, đơn vị Haugh chịu ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già trứng có đơn vị Haugh càng thấp) bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh cao hơn trước khi thay lông) và giống gia cầm. Chất lượng trứng rất tốt có đơn vị Haugh 80 – 100; tốt: 65 – 79; trung bình: 55 - 64 và xấu là dưới 55.
Nguyễn Bá Mùi và Phạm Kim Đăng, (2016) nghiên cứu chất lượng của trứng gà Ri và gà Ri lai (Ri x Sasso x Lương Phượng) thu được kết quả lúc 38 tuần tuổi có chỉ số Haugh là 80,90 và 81,56. Trương Văn Phước, (2021) nghiên cứu trên trứng gà Ác ở tỷ lệ axit amin khác nhau trong khẩu phần có chỉ số Haugh dao động từ 71,02- 76,95. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trứng của gia cầm sinh sản 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng trứng Sản lượng trứng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chất lượng và số lượng của thức ăn, lượng nước uống vào, cường độ và thời gian chiếu sáng, sự xâm nhập của ký sinh trùng, bệnh tật, và nhiều yếu tố sinh lý, quản lý và môi trường khác.
* Ảnh hưởng của tuổi thành thục về tính 6 Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo. Đồ thị đẻ trứng của gia cầm đạt đến đỉnh cao nhanh chủ yếu là do tuổi thành thục về tính của từng cá thể trong đàn sớm. Gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm sinh học. Nhưng nếu gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài.
Tuổi và năm đẻ của gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng/năm. Chu kỳ đẻ của gà thường khoảng 12 tháng. Quá trình sản xuất trứng bắt đầu khi gà đạt khoảng 18–22 tuần tuổi, tùy thuộc vào giống và mùa vụ. Sản lượng trứng tăng mạnh và đạt đỉnh cao khoảng 90% sau 6–8 tuần.
Sản xuất trứng giảm dần xuống còn khoảng 65% sau 12 tháng. Gà có thể sống nhiều năm và tiếp tục đẻ trứng trong nhiều năm. Tuy nhiên, sau hai hoặc ba năm nhiều gà mái giảm năng suất đáng kể. Khi gia cầm đẻ năm thứ hai thì sản lượng trứng giảm 10-20% (Jacqueline Jacob, 2014).
* Ảnh hưởng của sự thay lông đến sản lượng trứng Gà mái đẻ tốt trong khoảng 50 đến 60 tuần và sau đó có một khoảng thời gian thay lông. Gà đẻ kém và gà mái già sẽ thay lông thường xuyên và đẻ ít hơn (Jacqueline Jacob, 2014). Sự thay lông là một quá trình sinh lý học tự nhiên. Ở gia cầm hoang thì thời gian thay lông thường phụ thuộc vào mùa.
Thông thường, chúng thay lông vào mùa thu. Thời gian thay lông càng dài thì sản lượng trứng càng thấp. Sự thay lông là kết quả hoạt động tương tác phức hợp của các hormone gonadotropin. Các hormone khác như thyroxine và prolactin cũng hoạt động tương tác với hormone gonadotropin (Rose, 1997).
Sức đẻ trứng giảm ngay khi gà rụng lông. Thời gian rụng lông kéo dài trong vòng 10 ngày và sau khoảng 15 ngày thì lông mới được mọc ra. Gia cầm có thể đẻ trở lại trước khi bộ lông mới mọc đầy đủ. * Ảnh hưởng của bệnh đến sản lượng trứng Nội ký sinh trùng có thể gây ra tình trạng sử dụng thức ăn kém hiệu quả, sinh trưởng kém, giảm sản lượng trứng và chết khi nhiễm bệnh nặng.
Gà bị nhiễm bệnh cũng có thể dễ mắc các bệnh kế phát. Bệnh cầu trùng khiến cho gà gầy hốc hác, giảm rõ rệt lượng thức ăn tiêu thụ, gà bị tiêu chảy và giảm sản lượng trứng, tỷ lệ chết cao. Gà đẻ mắc bệnh CRD có các triệu chứng đặc trưng như thở hổn hển, hắt hơi, ho và sản lượng trứng giảm rõ rệt. Chất lượng trứng cũng ảnh hưởng xấu.
Chất lượng trứng 7 thấp và vỏ không đều, vỏ mềm hoặc sai lệch hình dạng. Bệnh Newcastle gây nên hiện tượng bỏ ăn, giảm tiêu thụ nước và sự sụt giảm đáng kể sản lượng trứng.