Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của các mức bổ sung thức ăn hỗn hợp đến sinh trưởng và cho thịt của thỏ new zealand nuôi tại thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của mức bổ sung thức ăn hỗn hợp đến sinh trưởng và cho thịt thỏ New Zealand nuôi tại Thái Nguyên.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của thức ăn hỗn hợp đến sinh trưởng thỏ

Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của thức ăn hỗn hợp đến sinh trưởng thỏ New Zealand tại Thái Nguyên. Kết quả cho thấy, việc bổ sung thức ăn hỗn hợp với tỷ lệ phù hợp giúp cải thiện đáng kể tốc độ tăng trưởng của thỏ. Cụ thể, thỏ được nuôi bằng khẩu phần có bổ sung thức ăn hỗn hợp đạt mức tăng trọng bình quân 26,4g/con/ngày. Điều này chứng tỏ thức ăn hỗn hợp không chỉ cung cấp đầy đủ dinh dưỡng mà còn tối ưu hóa quá trình phát triển thỏ.

1.1. Khả năng thu nhận dinh dưỡng

Thỏ được nuôi bằng thức ăn hỗn hợp có khả năng thu nhận vật chất khô, proteinnăng lượng trao đổi cao hơn so với khẩu phần chỉ sử dụng thức ăn thô xanh. Điều này giúp cải thiện hiệu quả chăn nuôi và giảm tiêu tốn thức ăn trên mỗi kg tăng trọng.

1.2. Tỷ lệ nuôi sống

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc sử dụng thức ăn hỗn hợp giúp tăng tỷ lệ nuôi sống của thỏ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất thỏ và giảm thiểu rủi ro trong chăn nuôi thỏ.

II. Ảnh hưởng của thức ăn hỗn hợp đến chất lượng thịt thỏ

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của thức ăn hỗn hợp đến chất lượng thịt thỏ New Zealand. Kết quả cho thấy, thỏ được nuôi bằng khẩu phần có bổ sung thức ăn hỗn hợpchất lượng thịt tốt hơn, với hàm lượng protein và các chất dinh dưỡng cao hơn. Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng mà còn nâng cao giá trị kinh tế của sản phẩm.

2.1. Thành phần hóa học thịt

Thịt thỏ được nuôi bằng thức ăn hỗn hợp có hàm lượng protein thôchất béo thô cao hơn so với thịt thỏ nuôi bằng khẩu phần thông thường. Điều này chứng tỏ thức ăn hỗn hợp có tác động tích cực đến chất lượng thịt.

2.2. Giá trị dinh dưỡng

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, thịt thỏ được nuôi bằng thức ăn hỗn hợp có giá trị dinh dưỡng cao hơn, đặc biệt là hàm lượng vitamin và khoáng chất. Điều này giúp thịt thỏ trở thành nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.

III. Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng thức ăn hỗn hợp

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng thức ăn hỗn hợp trong chăn nuôi thỏ tại Thái Nguyên. Kết quả cho thấy, việc bổ sung thức ăn hỗn hợp giúp giảm tiêu tốn thức ăn và tăng năng suất thỏ, từ đó nâng cao lợi nhuận cho người chăn nuôi.

3.1. Chi phí thức ăn

Việc sử dụng thức ăn hỗn hợp giúp giảm chi phí thức ăn trên mỗi kg tăng trọng của thỏ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tối ưu hóa hiệu quả chăn nuôi và nâng cao lợi nhuận.

3.2. Lợi nhuận kinh tế

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc sử dụng thức ăn hỗn hợp giúp tăng lợi nhuận kinh tế cho người chăn nuôi. Điều này chứng tỏ thức ăn hỗn hợp không chỉ cải thiện năng suất thỏ mà còn mang lại giá trị kinh tế cao.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Các loại thức ăn sử dụng cho thỏ 1. Thức ăn thô xanh Ở nước ta, thức ăn thô xanh phục vụ chăn nuôi khá phong phú, đa dạng bao gồm, thân, lá của một số cây trồng, một số loài cỏ bao gồm cỏ trồng và cỏ mọc tự nhiên.

Đối với chăn nuôi thỏ, cỏ là nguồn thức ăn quan trọng, là loại thức ăn chính dùng để nuôi thỏ, chiếm tới 65 - 80% trong khẩu phần ăn hàng ngày bởi trong cỏ có chứa hầu hết các chất dinh dưỡng mà thỏ cần như protein, vitamin, khoáng đa vi lượng thiết yếu. Thức ăn xanh cho thỏ là loại thức ăn sử dụng ở trạng thái tươi, chiếm tỷ lệ nhất định trong khẩu phần ăn của thỏ. Áp dụng trong chăn nuôi thỏ có thể sử dụng các loại thức ăn sau: Các loại cỏ: cỏ mọc tự nhiên như cỏ lá tre (Lophatherum gracile), cỏ mồm (Hymenache acutigluma), cỏ chỉ (Rhizoma cynodoni), cỏ Ghinê (Panicum maximum), cỏ ống (Panicum repens), cỏ voi (Penisetum purpureum), cỏ đậu lá nhỏ (Spophocarpus scanden), cỏ đậu lá lớn (Macana pruroens)… cỏ hòa thảo năng suất cao (VA06, Ghinê…). Cỏ sử dụng cho thỏ ăn nên dùng cỏ lúc sắp ra hoa (khi cỏ ra hoa, chất lượng cỏ giảm về các khoáng chất, nhưng tăng các chất khó tiêu hóa như lignin, cutin, silic)… Không sử dụng cỏ bị thối, hỏng, ướt, không chất đống cỏ dễ dẫn đến việc hư thối, làm môi trường phát triển cho các loại vi sinh vật không có lợi.

Cắt cỏ cho thỏ không được cắt sát gốc, chỉ cắt 1/2 - 1/3 chiều cao cây về phần ngọn, không sử dụng phần gốc cỏ dính nhiều đất có trứng giun và các mầm bệnh khác. Các loại rau: Nên sử dụng các loại rau mọc nơi khô cạn như các loại, rau sam, rau dền dại, rau dệu, vòi voi, nhọ nồi. Không nên dung các loại rau trồng như rau muống, rau dền, rau lang, rau cải, su hào, bắp cải, hoa lơ, cải 5 cúc, rau ngót,. các loại rau này thường chứa nhiều nước và được bón nhiều phân hữu cơ nên khi sử dụng nhiều thỏ dễ bị ỉa chảy.

Các loại lá cây dại, cây trồng thân cao và cây leo là loại thức ăn xanh cho thỏ ăn sạch sẽ nhất, ít chứa mầm bệnh. Lá chuối có vị chát thỏ thích ăn, thân cây chuối thái nhỏ, nấu với cám rất thích hợp cho thỏ vỗ béo. Lá sắn ta và lá sắn dây thỏ rất thích ăn, loại lá này có hàm lượng đạm cao. Lá keo dậu, lá dâu da xoan thỏ có thể ăn cả cành nhỏ, thỏ gặm cành sạch vỏ trơ lại lõi gỗ.

Lá mít, lá tre, lá chè tươi, dâm bụt vùng nào cũng có, sử dụng cho thỏ ăn quanh năm, thỏ rất thích ăn. Các loại lá cây mọc hoang dại như cây ích mẫu, cây ngải cứu, cây bồ công anh, bông mã đề,. đều được sử dụng để nuôi thỏ. Cỏ Ghinê còn gọi là cỏ sả, có tên khoa học là (Panicum maximum) một số nơi còn gọi là cỏ Tây Nghệ An hay cỏ sữa.

Cỏ Ghinê là loại cây lâu năm, thân cao tới 2-3 m, không có thân bò, chỉ sinh nhánh và mọc thành bụi như bụi sả. Bẹ lá mọc quanh gốc, có màu tím, cả bẹ và lá đều có lông nhỏ và trắng. Bộ rễ cỏ có nhiều nhánh, phát triển mạnh, khả chịu đựng hạn cao. Cỏ Ghinê có nhiều đặc tính quý, sinh trưởng mạnh, năng suất cao, khả năng chịu hạn, chịu nóng và chịu bóng cây tốt, dễ trồng.

Cỏ Ghinê sống được trên nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là loại đất phù sa và đất có nhiều mầu. Chịu được đất mặn nhẹ và không chịu được đất ẩm kéo dài. Do cỏ Ghinê có khả năng chịu được hạn và bóng râm, nên có thể trồng xen với cây lâm nghiệp hoặc cây ăn quả, trồng ven bờ đê, ven đường, xung quanh ao cá, vừa phủ đất chống xói mòn và giữ ẩm, vừa tận thu chất xanh cho chăn nuôi thỏ, dê rất tốt. Mỗi năm có thể thu hoạch 6 - 8 lứa và năng suất trên một ha có thể đạt 80-160 tấn.

Sau khi trồng được 60 ngày thì thu hoạch lứa đầu, cắt phần trên, cách mặt đất 10 cm. Các lứa thu hoạch sau cách nhau 40 - 45 ngày. Mỗi năm cắt dọn gốc già một lần. Cỏ Ghinê ăn rất ngon và có giá trị dinh dưỡng cao, không bị giảm chất lượng nhanh như cỏ voi.

6 Hiện nay nhiều nghiên cứu cho thấy cỏ Ghinê được trồng để làm thức ăn cho gia súc ăn cỏ và là một trong những nguồn thức ăn quan trọng trong chăn nuôi thỏ. Kết hợp với các loại thức ăn giàu đạm và năng lượng sẽ giúp thỏ phát triển tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Qua nghiên cứu cho thấy khi sử dụng cỏ Ghinê kết hợp với khẩu phần ăn cơ sở bằng 5% trọng lượng cơ thể với thành phần 15% đậu tương nghiền, 25% bột sắn, 20% cám gạo, 5% khoáng, 35% rỉ mật sử dụng cho thỏ New Zealand 30 ngày tuổi ăn tự do sẽ đạt mức tặng trọng bình quân 26,4g/con/ngày. Thành phần hóa học của cỏ Ghinê (%VCK) Loại thức ăn VCK (%) Protein NDF ADF Cỏ Ghinê 20,50 9,40 66,30 45,10 1.

Thức ăn tinh Thức ăn tinh bao gồm các loại hạt ngũ cốc và bột của chúng (ngô, mì, gạo), bột và khô dầu đậu tương, lạc,. các loại hạt cây bộ đậu và các loại thức ăn tinh hỗn hợp được sản xuất công nghiệp. Thức ăn tinh hỗn hợp được chế biến tại các xí nghiệp chế biến thức ăn từ các loại nguyên liệu chủ yếu là bột ngô, cám gạo, bột mì, các loại khô dầu, bột cá. Ngoài ra người ta còn bổ sung thêm các premix khoáng và vitamin.

Người ta cũng dùng các loại bã rượu, bã bia trong thành phần thức ăn tinh hỗn hợp. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn tinh hỗn hợp tuỳ thuộc vào thành phần của nguyên liệu. Đặc điểm chung của thức ăn tinh là hàm lượng nước và xơ đều thấp, chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như đạm, chất bột đường, chất béo, các chất khoáng và vitamin, tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng khá cao. Thức ăn tinh cho thỏ bao gồm: thức ăn hỗn hợp, ngô, đỗ, gạo, lạc và các loại thức ăn động vật như bột cá, bột thịt, bột sữa theo một lượng thích hợp trong khẩu phần nhằm nâng cao khả năng sản xuất của thỏ.

Thực tế cho thấy, nếu bổ sung thức ăn với hàm lượng 20% protein cho thỏ thịt duy trì mức ăn 20 - 30 g/ngày, thỏ mang thai mức 40 g/ngày, thỏ nuôi con mức 60 g/ngày 7 trong điều kiện khẩu phần có bổ sung rau muống và bã đậu nành (Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Thị Kim Đông, 2009) [21]. Trong môi trường cụ thể, cần thiết có thể cho ăn thêm cỏ khô vào ban đêm đồng thời cung cấp nước uống cho thỏ. Thức ăn củ quả Thỏ cũng thích ăn các loại củ quả như củ cà rốt, củ cải, khoai lang ta (khoai tây cho thỏ ăn cũng tốt, trừ củ khoai tây đã nẩy mầm, gây ngộ độc). Chúng cũng thích ăn chuối chín, bí đỏ, lê, táo,… đa số những thức ăn này đều chứa nhiều chất đạm, chất xơ, vitamin,… là những chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng của thỏ ở mọi lứa tuổi.

Đặc điểm tiêu hóa của thỏ 1. Cấu tạo và hoạt động của đường tiêu hóa Thỏ là động vật dạ dày đơn, nhưng khác loại động vật dạ dày đơn khác là quá trình tiêu hóa có sự tham gia của vi sinh vật ở manh tràng. Mô phỏng cấu tạo bộ máy tiêu hóa và hoạt động tiêu hóa của thỏ được mô tả ở hình 1. Sơ lược cấu tạo bộ máy tiêu hóa và hoạt động tiêu hóa của thỏ Quá trình tiêu hóa có thể tóm tắt như sau: Thức ăn được nghiền nát, 8 trộn kỹ với nước bọt ở khoang miệng, theo thực quản đẩy xuống dạ dày.

Tại đây có quá trình tiêu hóa protein nhờ enzyme pepsine, nhưng không có quá trình tiêu hóa tinh bột và lipit cũng như chất xơ. Ở ruột non, phần lớn các chất dinh dưỡng được tiêu hóa nhờ tác dụng của các enzyme tiêu hóa có trong dịch ruột. Những chất không được tiêu hóa ở ruột non sẽ được đẩy xuống ruột già. Ở đây có nhiều mẩu thức ăn kích thước to nhỏ khác nhau, những mảnh thức ăn xơ kích thước lớn hơn không tiêu hóa được đẩy các mẩu thức ăn nhỏ hơn có khả năng tiêu hóa ngược trở lại vào manh tràng.

Manh tràng có chức năng dự trữ và tiêu hóa chất xơ nhờ hệ vi sinh vật. Hệ thống tiêu hóa của thỏ có quá trình lên men thức ăn ở phía sau nên các chất dễ tiêu hóa như đường, dễ tan được hấp thu từ trước, do vậy thỏ không tốn năng lượng để tiêu hóa. Tuy nhiên, mang tràng của thỏ có dung tích nhỏ hơn dạ dày kép, do vậy thức ăn không ở lại lâu nên tỷ lệ tiêu hóa thấp hơn so với động vật nhai lại khác. Hơn nữa xác vi sinh vật là nguồn protein chất lượng cao sẽ theo phân ra ngoài, tuy nhiên thỏ có thể thu lại một lượng qua việc ăn lại phân mềm (Đinh Văn Bình và cs.

Ăn lại phân ở thỏ là quá trình sinh lý bình thường nhằm nâng cao khả năng tiêu hóa thức ăn và mức độ sử dụng các chất dinh dưỡng. Phân cứng còn gọi là phân ban ngày, dạng viên hình cầu, thỏ không ăn; phân mềm được thải ra vào ban đêm (còn gọi là phân vitamin) viên nhỏ, mịn, dính kết vào với nhau được tạo ra ở mang tràng. Trong phân mềm chứa nhiều nước, đạm thô, là nguồn protein chất lượng cao, ngoài ra còn có nhiều vitamin quan trọng nhất là vitamin B. Từ đặc tính ăn phân này nên thỏ được gọi là loài nhai lại giả.

Thỏ từ 3 tuần tuổi bắt đầu có hiện tượng nhai lại. Trung bình mỗi ngày thỏ thải ra ngoài 80g phân mềm, bằng 1/4 số phân và thỏ thường ăn trước một phần nhỏ trước khi phân được thải ra ngoài. Các tiểu phần thức ăn mảnh to tạo thành phân cứng do khó bị tiêu hóa do vậy càng chú ý bổ sung hàm lượng xơ phù hợp trong khẩu phần ăn của thỏ. Thành phần hóa học của hai loại phân này khác nhau như bảng dưới đây.

Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ (%) 9 Thành phần hóa học Phân cứng Phân mềm Vật chất khô 58,3 27,1 Protein thô 13,1 29,5 Chất béo thô 37,8 2,4 Chất xơ thô 89,0 22,0 Khoáng tổng số - 10,8 Dẫn xuất không đạm 37,7 35,1 Nguồn: Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Thị Kim Đông (2009) [21] 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh hưởng của thức ăn hỗn hợp đến sinh trưởng và chất lượng thịt thỏ New Zealand tại Thái Nguyên" tập trung nghiên cứu tác động của các loại thức ăn hỗn hợp lên quá trình sinh trưởng và chất lượng thịt của thỏ New Zealand. Kết quả cho thấy việc sử dụng thức ăn hỗn hợp phù hợp không chỉ cải thiện tốc độ tăng trưởng mà còn nâng cao chất lượng thịt, đặc biệt là hàm lượng dinh dưỡng và độ mềm. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà chăn nuôi và nghiên cứu trong việc tối ưu hóa chế độ ăn để đạt hiệu quả kinh tế cao.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến sinh trưởng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận án tiến sĩ công nghệ thực phẩm nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện nảy mầm đến thành phần dinh dưỡng và kháng dinh dưỡng của hạt đậu xanh", hoặc "Luận văn khảo sát quá trình chín trái ở cây cà phê chè coffea arabica l". Ngoài ra, nghiên cứu "Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm hình thái sinh lý hóa sinh theo tuổi phát triển của quả hồng trồng tại thanh hóa" cũng cung cấp góc nhìn sâu sắc về quá trình phát triển của thực vật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm trong nông nghiệp.