Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2 này sẽ trình bày những nội dung cơ bản các lý thuyết có liên quan để làm cơ sở nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu này. Nhiều thuật ngữ, khái niệm, mô hình được trình bày ở chương này được sử dụng cho các chương sau. Trong chương này tác giả cũng đề xuất mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu cho đề tài.
HÀNH VI TIÊU DÙNG Theo Kotler và Levy (1969), hành vi tiêu dùng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ. Theo Bennett (1988), hành vi tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ. Schiffman (1994) cho rằng thuật ngữ hành vi tiêu dùng ngụ ý đến những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, sử dụng, đánh giá và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ mà họ mong chờ sẽ đáp ứng được nhu cầu của họ. Nghiên cứu về hành vi tiêu dùng là một trong những việc quan trọng nhất cho nền tảng kiến thức kinh doanh, vì mục đích của người làm kinh doanh là làm thế nào để thu hút và giữ chân người tiêu dùng.
Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải thiết kế được các chiến lược marketing hiệu quả phù hợp với nhóm tiêu dùng mục tiêu. Và chất lượng của các chiến lược marketing lại phụ thuộc vào sự hiểu biết, khả năng đáp ứng được nhu cầu và sức ảnh hưởng đến người tiêu dùng (Brent , 1975). Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi tiêu dùng sẽ giúp cho các doanh nghiệp hiểu và dự đoán được hành vi mua sắm của người tiêu dùng, họ sẽ hiểu được người tiêu dùng sẽ mua gì, tại sao mua, khi nào mua, mua ở đâu, mua TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 như thế nào, bao lâu sẽ mua, sử dụng như thế nào và vứt bỏ ra sao (Brent, 1975); Theo Philip Kotler (2001), nghiên cứu về hành vi tiêu dùng là khá phức tạp, bởi vì có nhiều biến tham gia vào xu hướng của chúng là tương tác và ảnh huởng lẫn nhau. Các tác nhân marketing và các tác nhân của môi trường đi vào ý thức của người mua.
Những đặc điểm và quá trình quyết định của người mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định. THUYẾT HÀNH ĐỘNG HỢP LÝ (THEORY OF REASONED ACTION) Thuyết hành động hợp lý được Fishbein xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian. Mô hình TRA (Ajzen và Fishbein, 1975) cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Để quan tâm hơn về các yếu tố góp phần đến xu hướng mua thì xem xét hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng.
Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của người tiêu dùng. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…); những người này thích hay không thích họ mua.
Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mô hình TRA được thể hiện thông qua phương trình sau: β ≈ β1 = w1AB + w2SN Trong đó: β: Hành vi β1: Xu hướng hành vi AB: Thái độ hướng đến hành vi SN: Chuẩn chủ quan TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Mô hình này có một số hạn chế như: có nhiều nguy cơ xáo trộn giữa các thái độ và các chuẩn mực vì thái độ thường được định hình như là chuẩn mực và ngược lại. Giới hạn thứ hai của mô hình là giả định khi một người nào đó hình thành một ý định hành động, họ sẽ được tự do hành động không giới hạn. Trong thực tế, những khó khăn như năng lực hạn chế, thời gian, giới hạn môi trường hoặc tổ chức, và những thói quen vô thức sẽ hạn chế sự tự do hành động.
Thuyết hoạch định hành vi cố gắng để giải quyết những giới hạn này. THUYẾT HOẠCH ĐỊNH HÀNH VI (THEORY OF PLANNED BEHAVIOR) Thuyết hoạch định hành vi (TPB) được phát triển bởi Ajzen vào năm 1988. Thuyết này đề xuất một mô hình có thể đo lường các hành động được định hướng của con người. Nó dự đoán sự hình thành một hành vi cụ thể tại một thời điểm và địa điểm nhất định, với điều kiện đó là hành vi có chủ ý.
Thành phần chính của mô hình là ý định hành vi: ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi thái độ về khả năng hành vi đó sẽ có kết quả như mong đợi và đánh giá chủ quan về những rủi ro và lợi ích của kết quả đó. Thuyết TPB đã được sử dụng thành công để dự báo và giải thích nhiều hành vi và ý định về sức khỏe như hút thuốc, uống rượu bia, sử dụng dịch vụ y tế, cho con bú, sử dụng chất gây nghiện và nhiều hành vi khác. TPB cho rằng hành vi đạt được phụ thuộc vào động lực (ý định) và năng lực (điều khiển hành vi). Nó phân biệt thành ba loại tổng quát: hành vi, chuẩn mực và kiểm soát.
TPB bao gồm sáu thành phần đại diện cho sự kiểm soát hành vi thực tế của 1 người: Thái độ (attitudes) - liên quan đến mức độ một người có điều kiện đánh giá thuận lợi hay không thuận lợi đối với hành vi quan tâm. Nó đòi hỏi sự xem xét kết quả của việc thực hiện hành vi. Ý định hành vi (behavior intention) – liên quan đến các nhân tố động lực ảnh hưởng đến việc hành vi được đưa ra với ý định mạnh mẽ thực hiện hành vi, nhiều khả năng hành vi sẽ được thực hiện. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chuẩn chủ quan (subjective norms) – đề cập đến niềm tin về việc hầu hết mọi người đồng ý hoặc không đồng ý về hành vi.
Nó liên quan đến niềm tin của một người về đồng nghiệp và các người quan trọng của mình nghĩ rằng anh ấy hay chị ấy nên tham gia vào hành vi nhất định. Quy tắc xã hội (social norms) – đề cập đến phong tục, tập quán thông thường của một nhóm người hay trong bối cảnh văn hóa lớn hơn. Tiêu chuẩn xã hội được xem là chuẩn mực, hoặc tiêu chuẩn trong một nhóm người. Quyền lực cảm nhận (perceived power) – đề cập đến việc cảm nhận sự hiện diện của các nhân tố tạo điều kiện hoặc cản trở hoạt động của một hành vi.
Quyền lực cảm nhận góp phần vào nhận thức kiểm soát hành vi của một người dựa trên những nhân tố này. Nhận thức kiểm soát hành vi (perceived behavioral control) – đề cập đến sự nhận thức của một người về sự dễ dàng hay khó khăn để thực hiện hành vi quan tâm. Nhận thức kiểm soát hành vi thay đổi theo tình huống và các hành động, dẫn đến kết quả là một người có nhận thức khác nhau về kiểm soát hành vi tùy thuộc vào tình hình. Thành phần này của lý thuyết được thêm vào sau, và tạo ra sự chuyển đổi từ Thuyết hành động hợp lý sang Thuyết hoạch định hành vi.
Thuyết hành vi hoạch định có một số hạn chế sau: Nó giả định một người có đầy đủ cơ hội và nguồn lực để thực hiện thành công hành vi mong muốn, không liên quan đến ý định. Nó không tính đến các biến khác ảnh hưởng đến ý định hành vi và động lực, như nỗi sợ, nguy cơ, tâm trạng, hay kinh nghiệm quá khứ. Trong khi nó xem xét ảnh hưởng của chuẩn mực, nó tiếp tục không tính đến các nhân tố môi trường hay kinh tế có thể ảnh hưởng đến ý định tiến hành một hành vi của một người. Nó giả định rằng hành vi là kết quả của một chuỗi ra quyết định liên tiếp, và không xem xét điều này có thể thay đổi theo thời gian.
Trong khi xây dựng thêm một bổ sung quan trọng cho lý thuyết là nhận thức kiểm soát hành vi, nó không đề cập điều gì về kiểm soát thực tế đối với hành vi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Khung thời gian từ “ý định” đến “hành động hành vi” không được giải quyết. Ý ĐỊNH MUA SẮM (PURCHASE INTENTION) Dodd & ctg (1991, dẫn trong Lin & Chen) cho rằng ý định mua sắm của người mua là sự sẵn lòng để mua của họ. Mối quan hệ giữa nhận thức về giá trị và sự sẵn lòng mua là dương.
Còn Blackwell & ctg (2001, dẫn trong Lin & Chen) định nghĩa ý định là đánh giá chủ quan về cách họ sẽ hành xử trong tương lai. Ý định mua sắm đại diện những gì họ nghĩ họ sẽ mua. Ý định mua sắm là dấu hiệu tổng quát cho hành vi mua sắm của người tiêu dùng (Brown và ctg, 2003, trích trong Jee và De Run, 2013). Nó cũng là một dấu hiệu quan trọng liên quan đáng kể đến hiệu quả của thương hiệu và xây dựng thương hiệu (Cobb-Walgren và ctg, 1995, trích trong Jee và De Run, 2013), thái độ với quảng cáo (MacKenzie và Lutz, 1989, trích trong Jee và De Run, 2013), truyền miệng (Reichheld, 2003, trích trong Jee và De Run, 2013), uy tín của công ty (Lafferty và Goldsmith, 1999, trích trong Jee và De Run, 2013), sự tuyên bố (Newell và ctg, 1998, trích trong Jee và De Run, 2013), và sắc tộc (Simpson và ctg, 2000, trích trong Jee và De Run, 2013).
Dự đoán ý định của người tiêu dùng hay ý định mua sắm có thể được giải thích bởi mô hình lý thuyết về hoạch định hành vi (theory of planned behavior, TPB) (Ajzen và Madden, 1986). Điều này chủ yếu do mối liên hệ chặt chẽ giữa hành vi và thái độ ý định, điều đã được chứng minh đáng kể ở mô hình này. Điều này được giải thích thêm bởi thái độ đối với chính ý tưởng (Fishbein và Ajzen, 1975). Trong khi đó, những nghiên cứu khác lại tăng cường trường phái cho rằng các ý định mua sắm có thể được giải thích thêm bằng việc sử dụng mô hình lý thuyết hành động hợp lý (theory of reasoned action (TRA)) (Fishbein và Ajzen, 1975).