MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vùng sản xuất chè chất lƣợng cao Tân Cƣơng – Thái Nguyên là nơi có diện tích trồng chè toàn lớn nhất Tỉnh Thái Nguyên, tuy nhiên nhiều hộ dân sản xuất chè chƣa làm đƣợc theo quy trình Viet GAP nên chè chƣa đảm bảo chất lƣợng an toàn vệ sinh thực phẩm. Nhiềù bà con nông dân còn sử dụng phân chuồng tƣơi và sử dụng nhiều phân khoáng. Ngoài ra trong quá trình sản xuất, nông dân thƣờng bón phân chƣa cân đối, bón nhiều đạm( ure) làm cây mất cân đối về dinh dƣỡng( gây ra thừa đạm) ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của cây, cây chè dễ bị nhiễm các loại sâu bệnh hại dẫn đến năng suất còn thấp, chất lƣợng sản phẩm chƣa cao nhƣ mong muốn.
Đặc biệt việc bón quá nhiều đạm hoặc bón quá gần ngày thu hoạch và dƣ lƣợng nitrat tích lũy trong cây chè vƣợt quá mức cho phép, ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe ngƣời sử dụng. Ở nƣớc ta hiện đã có nhiều tác giả nghiên cứu ảnh hƣởng của phân bón đến năng suất và chất lƣợng của cây chè nhƣ: Phạm Minh Tâm (2001), Ngô Thị Hạnh (2010). Tuy nhiên vẫn chƣa có nghiên cứu nào về phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 tại vùng sản xuất chè Tân Cƣơng – Thái Nguyên. Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến sinh trưởng cây chè tại xã Tân Cương Thành Phố Thái Nguyên”.
Hiện nay, vấn đề về sản xuất chè an toàn theo quy trình Viet GAP đang đƣợc cả dƣ luận và xã hội quan tâm, trong đó ảnh hƣởng của phân bón đến năng suất và chất lƣợng chè đƣợc coi là vấn đề quan trọng nhất. Phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 là sản phẩm mới, để xây dựng quy trinh kỹ thuật sử dụng phân bón này cho cây chè nói chung và cây chè tại Tân Cƣơng nói riêng c 2 cần phải nghiên cứu ảnh hƣởng của phân bón đến năng suất và chất lƣợng của cây chè. Năm 2017, Trƣờng Đại học Nông lâm đƣợc Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ thƣơng mại hóa công nghệ sản xuất phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 cho các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc và các tỉnh thành trong cả nƣớc. Để thƣơng mại hóa công nghệ thì phải thƣơng mại hóa đƣợc sản sản phẩm phân NTR1, NTR2.
Muốn thƣợng mại hóa sản phẩm thì phải nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân NTR1, NTR2 cho cây trồng trong đó có cây chè. Phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 là 2 sản phẩm khoa học Công nghệ của trƣờng Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên. Phân NTR1 có hàm lƣợng lân tƣơng đối cao nên dùng chuyên bón lót, còn phân NTR2 có hàm lƣợng N và K20 cao chuyên dùng bón thúc. Phân NTR1, NTR2 đã nghiên cứu sử dụng cho nhiều loại cây trồng nhƣng chƣa nghiên cứu xậy dựng quy trình kỹ thuật bón phân cho cây chè.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Xác định lƣợng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 phù hợp và đặt hiệu quả kinh tế cao cho cây chè tại Xã Tân Cƣơng Thành Phố Thái Nguyên 1. Yêu cầu - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của liều lƣợng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến sinh trƣởng cây chè và biểu hiện sâu bệnh hại trên cây chè. - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của liều lƣợng phân hữu cơ khoáng NTR1, NTR2 đến năng suất, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế.
c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở khoa học của việc bón phân hữu cơ khoáng cho chè Nghiên cứu các nhu cầu của cây trồng, tƣ̀ đó tìm các biê ̣n pháp kỹ thuâ ̣t nhằ m tác đ ộng nhằm đáp ứng nhu cầu đó để tạo ra nhiều nông sản có năng suấ t, chất lƣợng và hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ cơ bản của khoa học Nông nghiệp. Một trong những nhu cầu cơ bản của cây trồ ng là các ch ất dinh dƣỡng và để đáp ứng nhu cầu đó chủ yếu thông qua việc bón phân.
Nhiệm vụ của việc bón phân là cung cấp cho cây phần dinh dƣỡng ít nhất cũng đủ bù lƣợng mà cây lấy đi theo sản phẩm thu hoạch. Muốn xây dựng chế độ bón phân hợp lý cần nghiên cứu đặc tính của cây đồng thời phân tích khả năng dinh dƣỡng trong đất. Bón phân là biện pháp có ý nghĩa rất lớn đối với cây chè nó quyết định đến khả năng đƣa nƣơng chè từ giai đoạn kiến thiết cơ bản vào giai đoạn kinh doanh sản xuất. Bón phân làm tăng nhanh lƣợng sinh trƣởng của cây, làm cơ sở cho việc tăng khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh (Lê Tất Khƣơng)[1].
Cây chè chủ yếu đƣợc trồng trên đồi núi có địa hình dốc, nên đất bị xói mòn, làm trôi lớp đất màu mỡ, nƣớc không giữ lại đƣợc, dẫn đến thiếu nƣớc vào mùa khô. Việc bón phân hóa học quá nhiều sẽ làm cho đất ngày càng xấu đi, dễ bị xói mòn hơn, dẫn đến việc chất lƣợng chè sẽ không cao. Hiện nay, việc bón phân hữu cơ khoáng và bổ sung lại các yếu tố trung lƣợng, vi lƣợng vào trong đất để cải tạo và phục hồi dinh dƣỡng có trong đất đã đƣợc ngƣời dân nhận thức và đã áp dụng. Nhƣng ngƣời dân vẫn đang sử dụng phân hóa học rất nhiều, dẫn đến dinh dƣỡng trong đất không đủ để cây có thể hấp thụ, c 4 làm cho cây sinh trƣởng và phát triển kém, khả năng chống chịu không tốt (Đỗ Ngọc Quý)[3].
Mặt khác, chè là cây công nghiệp dài ngày, sản phẩm là búp chè chỉ chiếm 8-13% sinh khối của cây, lại phải thu hái nhiều lần trong 1 năm. Đối tƣợng thu hoạch chè là búp và lá non. Mỗi năm thu hoạch từ 5 - 10 tấn/ha, vì thế, lƣợng dinh dƣỡng trong đất mất đi khá nhiều, nếu không bổ sung kịp cho đất thì cây trồng sẽ sinh trƣởng kém và cho năng suất thấp (Đỗ Ngọc Quý)[3]. Theo Eden (1958) trong búp chè non có 4,5% N; 1,5% P 2O5 và 1,2 - 2,5% K2O.
Ngoài ra cần chú ý rằng: Hàng năm trọng lƣợng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọng lƣợng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraxêli thì lƣợng đạm bị rửa trôi thƣờng bằng 1/3 tổng lƣợng đạm bón vào đất. Việc thử nghiệm các loại phân hữu cơ, giảm sử dụng phân khoáng cho cây chè là hết sức cần thiết, trong thực tế hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quy trình sản xuất chè an toàn, chè hữu cơ xong phạm vi ứng dụng ra thực tế còn nhiều khó khăn vì thực hiện trong phạm vi hẹp, thời gian chuyển đổi ngắn, các giải pháp kỹ thuật chƣa bộc lộ hết hiệu quả. Sử dụng phân hữu cơ và giảm lƣợng phân khoáng đối với cây chè, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ tác động đến năng suất và chất lƣợng sản phẩm mà còn cải thiện môi trƣờng, cải thiện độ phì cho đất hƣớng đến một nền nông nghiệp bền vững (Đỗ Ngọc Quý)[3]. Từ đó, chúng ta thấy rằng dinh dƣỡng của cây chè có những đặc điểm rất khác so với những loại cây công nghiệp khác nhƣ: cao su, cà phê, tiêu,…, nhu cầu về dinh dƣỡng của cây chè là rất cao.
Vai trò các nguyên tố dinh dưỡng đến sinh trưởng và phát triển cây chè Xu hƣớng sử dụng phân bón cho chè chủ yếu vẫn là 3 nguyên tố đa lƣợng chính N, P, K. Một số nƣớc còn quan tâm tới 2 nguyên tố bán đa lƣợng là Mg và S. Dạng phân bón cho chè thƣờng là phân phối hợp theo một số tỷ lệ c 5 nhất định, phù hợp điều kiện đất đai và năng suất chè của từng vùng nhằm tăng hiệu suất sử dụng của từng loại phân bón. Đồng thời bón phân cân đối phần nào có ảnh hƣởng tốt phẩm chất chè.
Vai trò cụ thể của một số nguyên tố dinh dƣỡng đối với chè nhƣ sau: Đạm (N): là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein. Đạm giúp tăng chiều cao cây, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]. Lân (P): là thành phần của phophatides, axit nucleic, protein… quan trọng trong quá trình trao đổi năng lƣợng và protein. Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất và tăng chất lƣợng chè (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2].
Thiếu lân: lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thụ đạm kém. Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất thấp và chất lƣợng kém (Nguyễn Thị Kiều Ngọc) [2]. Kali (K): hoạt hóa enzym liên quan đến quang hợp, tổng hợp hydratcacbon, protein, điều chỉnh pH và nƣớc ở khí khổng. Giúp cây cứng chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và rụng lá già, tăng năng suất và tăng độ ngọt, độ đậm trong chè búp (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2].
Thiếu kali: cây sinh trƣởng chậm, mép và chóp lá có màu xám hay nâu nhạt sau khô dần, lá già rụng sớm, lá non ngày càng nhỏ, dễ bị sâu bệnh. Búp thƣa, vỏ cây có màng trắng bạc, cây chậm ra búp, năng suất thấp, chè kém ngọt, chất lƣợng giảm (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]. Thiếu magiê: xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, c 6 lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lƣợng chè khô giảm (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]. Kẽm (Zn): là thành phần của men metallo-enzymes-carbonic- anhydrase, anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây.
Thúc đẩy sinh trƣởng, phát triển, tăng năng suất và chất lƣợng chè. Thiếu kẽm: cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần bạc trắng, số búp ít (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2]. Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein trong cây, tăng khả năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon. Tăng độ dẻo của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lƣợng chè (Nguyễn Thị Kiều Ngọc)[2].
Cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (khoảng hơn 4000 năm). Ngày nay chè là thứ nƣớc uống chủ yếu và phổ biến với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dƣỡng, thƣởng thức chè ở nhiều nƣớc đã đƣợc nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức trang trọng và thanh cao của trà đạo.