Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây dừa 1.1 Nguồn gốc, phân bố cây dừa Cây dừa có tên khoa học là Cocos nucifera L., thuộc họ Cau (Arecaceae), bao gồm khoảng 2.800 loài trong 190 chi. Nguồn gốc cây dừa còn là van dé gây tranh cãi, một số học giả cho rằng dừa có nguồn sốc ở khu vực Đông Nam Á, một số học giả lại cho rằng dừa có nguồn gốc ở miền Tây Bắc của Nam Mỹ. Tuy nhiên cây dừa được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới, đặc biệt là ở Nam A, Châu Phi, Nam Mỹ, Uc và các nước nhiệt đới trên thế giới (Morton, 1988). Cây dừa là loại cây công nghiệp mang lại nguồn kinh tê lớn và có sức sông mãnh liệt.
Trên thé giới có khoảng 93 quốc gia trồng dừa với tông diện tích khoảng 12,2 triệu hecta. Trong đó, một số nước có diện tích trồng dừa lớn như Philippines với tổng diện tích khoảng 3,63 triệu hecta, Indonesia 3,25 triệu hecta, Án Độ 2,1 triệu hecta, Tanzania 0,8 triệu hecta, Sri Lanka 0,46 triệu hecta (FAOSTAT, 2021). Dừa phát triển mạnh trên đất pha cát, chịu mặn cao, ưa thích các khu vực có nhiều ánh sáng. Được trồng chủ yếu ở các vùng ven biển và duyên hải.2 Tình hình sản xuất dừa tại Việt Nam Việt Nam là nước đứng thứ 7 trong 93 nước trồng dừa trên thế giới.
Theo đánh giá của Cộng đồng dừa quốc tế (ICC), đừa Việt Nam có năng suất và chất lượng cao nhất trên thế giới. Năm 2021, tại Việt Nam dừa có điện tích 175.000 hecta, sản lượng 1.415 tan (FAOSTAT, 2020), phân bố khắp cả nước nhưng được trồng tập trung chủ yếu ở các tinh Duyên hải miền Trung và ĐBSCL. Trong đó, các tỉnh có điện tích dừa lớn nhất là Bến Tre (trên 73.000 hecta) chiếm đến 44% tông diện tích dừa của cả nước, Trà Vinh (trên 23.000 hecta), Tiền Giang (trên 20. Có hơn 200 sản phẩm từ dừa được sản xuất và chế biến để phục vụ trong nước và xuất khẩu.
Tính đến năm 2021, sản phẩm từ dừa đã được xuất khẩu sang 90 quốc gia va vùng lãnh thé. Qua đó cho thấy, dita đóng vai trò quan trọng trong cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp và xuất khẩu. Năm 2019 kim ngạch xuất khẩu dừa Bến Tre đạt được khoảng 215,34 triệu USD, chiếm 22,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của tinh, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 — 2020 là 16,74%/năm, với thị trường lớn nhất là Trung Quốc (Sở Công thương Bến Tre, 2021). PHÂN BÓ DIỆN TÍCH DỪA VIỆT NAM NĂM 2021 = Bến Tre ø Trà Vinh = Tiền Giang % Vĩnh Long = Cà Mau = Sóc Trang m Bình Định - Các tỉnh miền Tây khác Các tỉnh miễn Trung khác Hình 1.1 Phân bố diện tích dừa Việt Nam (Sở Công thương Bến Tre, 2021) 1.3 Một số sâu hại trên dừa Sâu hai làm anh hưởng rất lớn đến năng suất dừa trên thé giới cũng như ở Việt Nam.
Dừa thuộc cây thân thắng và cao đo đó khi có dịch hại rất khó có thể xác định được thời điểm xuất hiện và các biện pháp quản lý phù hợp. Hiện nay, có khoảng 1000 loài côn trùng có liên quan đến dừa trên toàn thế giới, với hơn 40 loài côn trùng gây hai đã được ghi nhận, hầu hết đang được kiểm soát tự nhiên hiệu quả nhưng một số loài cần có biện pháp quản lí phù hợp. Một số loài sâu hại trên dừa: Oryctes boas Fabricius, Oryctes rhinoceros, Oryctes monoceros, Scapanes australis Boisduval, Strategus aloeus, Strategus anachoreta Burmeister, Strategus jugurtha Burmeister, Strategus quadrifoveatus, Leucopholis nónophora Burmeister, 4 Brontispa longissimi Gestro, Plesispa reichei Chapuis, Promecotheca caerulipennis Blanchard, Promecotheca cumingii Baly, Promecotheca papuana Csiki, Cholus zonatus, Rhinostomus barbirostris, Rhynchophorus bilineatus, Rhynchophorus ferrugineus, Rhynchophorus palmarum, Rhynchophorus phoenicis, Necrobia rufipes, Oryzaephilus mercator, Pachymerus nucleorum, Opisina arenosella (Rethinam và Singh, 2007). Trong đó, bo dừa (Brontispa longissima Gestro), đuông dừa (Rhynchophorus ferruginenus) và sâu đầu đen hai dừa (Opisina arenosella) là những loài côn trùng gây thiệt hại nghiêm trọng nhất ở các vùng trồng dừa lớn trên thế giới (Kurama và ctv, 2015).
Sâu đầu đen là dịch hại mới xuất hiện ở Việt Nam những năm gần đây và bùng phát thành dịch hại khó kiểm soát.4 Tình hình gây hại của sâu đầu đen trên dừa Trên thế giới Sâu đầu đen hại dừa được xem là loài sâu ăn lá, chúng phá hoại nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng dừa. Sâu bắt nguồn từ miền nam An Độ va Sri Lanka (Howard và ctv, 2001), sau đó đã xâm nhập đến 16 quốc gia Châu Á (Kumara, 2015). Năm 2013 sâu đầu den lần đầu tiên bùng phát trên cây dừa ở miền Nam Trung Quốc (Jin Tao, 2018). Sâu đầu đen xuất hiện và gây hại khi nhiệt độ và độ âm cao (Sathiamma và ctv, 1973; Narendran va ctv, 1978; NadaraJan và Channabasavanna, 1980).
Sâu đầu den tấn công dừa từ giai đoạn cây con đến khi trưởng thành và gây hại bằng cách đẻ trứng thành từng cụm nhỏ trên bề mặt lá đưới của dừa và tạo các lưới tơ ở mặt dưới lá chét làm cho lá bị hư tốn (Lever, 1969). Khi gây hại nặng, có thé làm cháy lá toàn bộ cây, những tàu lá rũ xuống, cong lại gây rụng trái non (Panwar, 1995; David, 2001). Do sâu đầu đen gây hại bên trong lá nên việc phòng trừ bằng thuốc là rất khó. Trên thế giới đã ghi nhận được nhiều loài thiên địch có khả năng kiểm soát sâu đầu đen đem lại hiệu quả cao và không gây ô nhiễm môi trường trong đó có T: pupivorus.
Tại Việt Nam Năm 2020, sâu đầu đen bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam và trở thành dịch hại khó kiểm soát. Huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre là nơi đầu tiên ghi nhận sự xuất hiện và gây hại của sâu đầu đen. Tính đến năm 2021, tổng điện tích gây hại ở Bến Tre khoảng 603 hecta, 5 trong đó Chợ Lach chiếm 105,6 hecta, Châu Thành 234,03 hecta, Mỏ Cay Bắc 39,1 hecta, Mỏ Cày Nam 90 hecta, Bình Đại 109,17 hecta, Thành phố Bến Tre 23,5 hecta, Ba Tri 1,6 hecta. Diện tích nhiễm nhẹ là 332,12 hecta (15 — 20%), nhiễm trung bình là 161,98 hecta (25 — 30%) và nhiễm nặng 108,9 hecta (42%).
Sâu đầu den tàn phá toàn bộ lá của cây bằng việc ăn bề mặt và phần dưới của lá. Sau đó chúng sẽ làm các mạng tơ được tao ra bằng chất thai và mảnh vụn ở dưới của lá dé ăn chất diệp lục của lá, làm cho lá bị khô, cháy dẫn đến thiệt hại về năng suất.2 Giới thiệu về ong Trichospilus pupivorus 1.1 Nguồn gốc ong Trichospilus pupivorus T. pupivorus là một chi nhỏ trong bộ Eulophim (Hymenoptera: Eulophidae) với tám loài (Ferriere, 1930; Cherian và Margabandhu, 1942; Boucek, 1976; Noyes, 2003; Ubaidillah, 2006) xuất hiện ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, đã được nghiên cứu như tác nhân kiêm soát sinh học tiềm năng chống lại sâu hại mía, ngô và bông ở một số nước Châu Phi, Châu A va Châu Mỹ (Boucek, 1976).2 Dac điểm hình thái của ong Trichospilus pupivorus T. pupivorus là một loài ong nội ký sinh nhộng của một số loài côn trùng gay hại nông nghiệp (Tavares và ctv, 2013; Silva và ctv, 2016).
Các đặc điểm về hình thái của ong đã được Ferriere (1930) mô tả đầu tiên và sau đó là Narendran (2011). Các đặc điểm sinh học của ong đã được mô tả bởi Jayaratnam (1941); Rao va ctv (1948); Dharmaraju (1952) và Nirula (1956). Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm sinh học (Dharmaraju và Pradan, 1976) và phạm vi ký chu (Tavares va ctv, 2013; Silva và ctv, 2016). Thanh trùng của 7.
pupivorus có kích thước khá nhỏ, mau nâu, với đôi cánh mong màu vàng nhạt được gap trên phan bụng. Đầu ngắn có hình bau dục, nhẫn và có lông to, mắt trước lỗi tương đối lớn. Rau dau rất ngắn, màu vàng mảnh mai ở con cái và to hơn ở con đực, có chức năng quan trọng trong việc lựa chọn, xác định vi trí, phân biệt va chấp nhận ký sinh trên ký chủ (Keil, 1997; Zhang và ctv, 2014). Ngoài ra, râu đầu còn có chức năng nhận biết bạn tinh dé giao phối (Weseloh, 1972; Battaglia và ctv, 2002).
Răng ham của 7: pupivorus ngăn và rộng, có bon răng, răng trên dài và nhọn hơn, các răng còn lại ngắn và tròn. Ngay sau cô có một chùm lông. Cánh trước có hai chùm lông den mọc dày dựng đứng ở ria cánh. Ngực nhẫn có lông mịn với vài long mao dai mọc rải rác, đốt ngực thứ hai có các rảnh đọc, hai xương sống và ba đoạn xương đòn.
Mặt lưng phẳng hoặc có hình dạng thấu kính. Bụng gần như tròn có màu nâu đen và ngắn hơn ngực. Bộ phận sinh sản hơi nhô ra ở cuối phần bụng. Chân tương đối ngắn, màu vàng, có bốn đốt gồm đốt đùi; đốt chày; đốt bàn chân; đốt cuối bàn chân.
Đốt đùi có màu nâu sam, hơi vàng ở đoạn cuối giao với đốt chày, đốt chày chân sau có một cua ngắn và có mau vàng, kích thước trung bình là 1,0 — 1,2 mm (Ferriere, 1930), theo kết luận Anantanarayanan (1934) 7. pupivorus có kích thước từ 1,5 — 2,0 mm. pupivorus dễ phát tán xa theo đường gió, một con thành trùng cái có thể đẻ 50 — 75 trứng trên một nhộng ký chủ và có thé ký sinh từ 3 — 5 nhộng. Thường một nhộng ký chủ sâu đầu đen có thé chứa khoảng 100 — 300 trứng (Tavares và ctv, 2013).
1: pupivorus cái có đầu sam hơn phần lưng, lưng và bụng có chút ánh kim. Mắt đơn gần nhau, gần với màng trước hơn so với rìa mắt. Râu có màu vàng, ngắn mảnh thuôn hẹp, chiều dai gap ba lần chiều rộng, có hai khớp, khớp thứ nhất dài hơn khớp thứ hai. Miệng có hai khớp, vòm họng có một khớp.
Thân màu vàng cam, má có một sọc nâu kéo dải từ mắt đến miệng. Bụng tròn, rộng hơn nhưng ngắn hơn so với ngực, có mau nâu đen, lông min từ cuối đoạn thứ hai, chân có màu vàng. Chiều dai con cái từ 1 — 1,2 mm (Ferriere, 1930). pupivorus đực có kích thước nhỏ, râu và chân ngắn hon con cái.
Cơ thể có màu hoàn toàn vàng, chỉ có phần bụng màu nâu. Cánh màu xám khói và có màu nâu khói ở giữa. Có một sọc vàng trên phần bụng. Chân kiềm nhỏ, xương cô chân rất ngắn.
Chiều đài con đực từ 0,9 — 1 mm (Ferriere, 1930). pupivorus rất khó đê phân biệt giới tính khi ở ngoài đồng. Khi quan sát dưới kính hiển vi, 7. pupivorus cái có râu đài hơn, phan bụng tròn hơn 7: pupivorus đực.
pupivorus đực thường nhỏ hon 7. pupivorus đực, (B) Rau 7: pupivorus cai 1. Đặc điểm sinh học của ong Trichospilus pupivorus Vòng đời Vòng đời của 7: pupivorus có thê thay đôi tùy theo điều kiện thời tiết. Ở nhiệt độ 28°C vòng đời kéo dài trong khoảng 16 đến 17 ngày.