Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về cây dừa Cây dừa thuộc giới Plantae, bộ Arecales, họ Arecaceae, chi Cocos, loài Cocos nucifera. Dừa phân bé rộng khắp trên thế giới đặc biệt là vùng nhiệt đới ven biển, là nguyên liệu được sử dụng rộng rãi trong đời sống và dần trở thành một biểu tượng văn hóa tại các vùng nay (Lalith va ctv, 2009). Dừa trong tiếng Phan là kalpa vriksha với nghĩa là "cây dem lại mọi thứ cần thiết cho cuộc sông". Trong tiếng Mã Lai, dừa được gọi là pokok seribu guna tức là "cây có cả ngàn công dụng".
Tại Philippines, dừa được xem là "cây của sự sống" (Nguyễn Thanh Lợi, 2014). Cây dita với 208 sản phẩm chế biến có thé được coi là cây trồng cho ra nhiều sản phẩm chế biến nhất cả nước hiện nay. Các sản phẩm thương mại chính từ dừa bao gồm: nước dừa, cơm dừa, dầu dừa, khô dầu dừa (bã dầu dừa), cơm dừa nạo sấy, các sản phẩm từ xơ, mụn dừa, than gáo dừa, than hoạt tính (Sở công thương Bến Tre, 2021).1 Nguồn gốc Nguồn gốc và quá trình thuần hóa của dừa vẫn chưa được xác định rõ, có nhiều giả thuyết trái ngược nhau được đưa ra về vấn đề này. Một số giả thuyết cho rằng dừa có nguồn gốc từ châu Mỹ sau đó lan sang châu Á và Polynesia (Ridley, 1930).
Tuy nhiên, giả thuyết dừa có nguồn gốc từ Polynesia và châu A đã được cho là đúng (Child, 1964). Hơn nữa, Fremond và ctv (1966) và Purseglove (1968) đã đưa ra được bằng chứng thuyết phục về nguồn gốc Đông Nam A va quá trình thuần hóa ở An Độ — Thái Bình Dương dựa trên các bằng chứng về dân tộc học và côn trùng học. Tuy nhiên, lại có bằng chứng từ các nghiên cứu khảo cô và hóa thạch đưa ra giả thuyết tranh luận về nguồn gốc của dừa là ở Tây Nam Thái Bình Duong (Purseglove, 1968), trong khi các hóa thạch ở An Độ và rừng Madagascar ủng hộ nguồn gốc dừa từ An Độ Duong (Hill, 1929). Trong sự nỗ lực giải thích sự hiện diện của các họ hàng gần của dừa ở châu Mỹ, Purseglove (1968) cho rằng loài cây họ cọ tô tiên có kha năng cao có trung quả bì dang sợi có thé nổi và tự nảy mam trong diéu kién thich hop do đó quả có thể trôi theo dòng hải lưu từ Nam Mỹ đến Polynesia và ở vùng Melanesia, dừa cũng có thé đã tiến hóa từ loài cọ tổ tiên này.
Bee va ctv (2011), dé xuất nguồn sốc dừa từ Thái Bình Dương và An Độ Dương sau khi thực hiện phân tích di truyền trên 1322 mẫu dừa đại diện cho các kiểu hình và các vùng địa lý khác nhau. Các phân tích dựa vào phương pháp Bayes cho thấy hai quân thê dừa có sự khác biệt về mặt di truyền cao nhất là Thái Bình Dương và lưu vực Indo-Atlantic.2 Phân loại Theo Chan và Elevitch (2006), dựa vào kích thước và sức phát triển của cây dừa, người ta chia dừa thành 2 nhóm chính: nhóm giống dừa cao và nhóm giống dừa lùn. Cho đến nay, giống dừa cao là nhóm được trồng phé biến hơn trên khắp thé giới. Day là nhóm cây thụ phan chéo do đó nhóm này có sự da dang di truyền, được thể hiện qua sự biến dị rộng rãi về đặc điểm hình thái như kích thước, hình dáng, màu sắc quả, cau tạo quả (độ day vỏ, trọng lượng nội qua bi), năng suất.
Ngược lại, nhóm dừa lùn chủ yếu là tự thụ do đó đồng nhất hơn về mặt di truyền. Điều này được thể hiện qua sự đồng nhất về mặt hình thái của nhiều loại dừa lùn. Tình hình sản xuất dừa trên thế giới và ở Việt Nam 1.1 Tinh hình sản xuất dừa trên thế giới Theo số liệu từ FAO (2020), trên thế giới có 86 quốc gia trồng dừa với tông diện tích hơn 11,57 triệu ha. Cây dừa phân bố khá rộng khắp ở khu vực nhiệt đới và cận xích đạo, trải dài từ Đông bán cầu sang Tây bán cầu, trong khoảng từ 20° Bắc đến 20° Nam và Châu A — Thai Bình Dương là khu vực tập trung nhiều dừa nhất.
Dừa phân bó nhiều nhất ở Châu A với 82,94% tổng điện tích trên thế giới (trong đó Đông Nam Á chiếm 71,45%, Nam Á chiếm 28,14%, còn lại là Đông Á với 0,41%), đứng thứ hai là Châu Phi với 9,05%, theo sau là Châu Mỹ với 4,09% và cuối cùng là Châu Đại Dương chiếm 3,91%. Dừa là cây lâu năm, va chỉ thích nghĩ trên những vùng khí hậu nhất định. Vi vậy diện tích canh tác dừa khá 6n định, ít có sự thay đôi đáng kê. Năm quốc gia đứng đầu về diện tích trồng dừa trên thế giới là: Philippines (hơn 3,6 triệu 4 ha, Indonesia (hơn 2,7 triệu ha), An Độ (hơn 2,1 triệu ha), Cộng hòa Thống nhất Tanzania (hon 0,6 triệu ha) va Sri Lanka (hơn 0,5 triệu ha).
Riêng 3 nước Philippines, Indonesia và An Độ đã chiếm 75% diện tích dừa thé giới (FAO, 2020). Về sản lượng, Đông Nam Á là khu vực đứng đầu với hơn 35 triệu tấn, chiếm 56,9% sản lượng dừa thế giới so với 59,26% diện tích. Tiếp theo là khu vực Nam Á với sản lượng hơn 17 triệu tan, đóng góp 28,24% sản lượng toàn cầu với 23,34% điện tích. Riêng 3 nước Philippines, Indonesia và An Độ chiếm 74,78% sản lượng thé giới với hơn 46 triệu tan (FAO, 2020).
Về năng suất, Châu Mỹ là khu vực đứng nhất với năng suất hơn 9,8 tan/ha nhưng do điện tích canh tác ít (chỉ hơn 4% diện tích trồng dừa thế giới) nên chỉ đóng góp 7,5% vào sản lượng dừa thế giới. Khu vực Nam A có năng suất 6,4 tan/ha, cao hơn trung bình chung thé giới. Các khu vực con lại đều có năng suất thấp hơn trung bình chung thé giới kể cả khu vực Đông NamA (5,1 tan/ha) (FAO, 2020).2 Tình hình sản xuất dừa ở Việt Nam Theo FAO (2022), năm 2020, tổng diện tích dừa ở Việt Nam khoảng 168 nghìn ha, xếp thứ 8 về diện tích trồng dừa trên thế giới. Năng suất dừa của Việt Nam là 10,51 tan/ha, cao hơn trung bình chung thé giới là 5,9 tan/ha, xếp thứ 12 về năng suất dừa trên thế giới.
Sản lượng dừa năm 2020 của Việt Nam hơn 1,7 triệu tấn, đứng thứ 6 trên thế giới và đóng góp 2,79% vào tong sản lượng dừa thế giới. Cây dừa phân bố ở nhiều tỉnh khác nhau trên cả nước như: Bến Tre, Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Bình Dinh, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Thuận. Tuy nhiên dừa được trồng tập trung với quy mô lớn chủ yếu ở Đồng bằng Sông Cửu Long, khu vực này chiếm hơn 80% diện tích dừa cả nước, với quy mô khoảng 130 nghìn ha. Trong đó, Bến Tre được mệnh danh là “thủ phủ dừa”, là tỉnh có diện tích và sản lượng dừa lớn nhất cả nước với điện tích gần 74 nghìn ha, sản lượng hơn 645 nghìn tan, chiếm 44% tổng diện tích và đóng góp 41,5% vào tổng sản lượng dừa cả nước.
Xếp sau Bến Tre là Trà Vinh với diện tích dừa trên 23 nghìn ha, sản lượng trên 308 nghìn tấn. Đứng thứ 3 là Tiền Giang với điện tích hơn 20 nghìn ha và sản lượng trên 5 183 nghìn tan (Sở Công thương Bến Tre, 2021). Các loài sau hại trên dừa Sâu hại là một trong những nguyên nhân chính gây giảm năng suất và chất lượng dừa ở nước ta cũng như các vùng trồng dừa khác trên thế giới. Cay dita có đặc điểm thân cây cao gây ra nhiều khó khăn trong việc phát hiện và áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại.
Hiện nay đã ghi nhận được hơn 900 loài côn trùng gây hại tại các vùng dừa chuyên canh và cả dừa mọc ngoài tự nhiên. Sâu gây hại trên các bộ phận khác nhau như thân, lá, hoa và trái (Abhishek và Dwivedi, 2021). Hiện nay trên thế giới có khoảng 1000 loài côn trùng có liên quan đến cây dừa. Trong đó có hơn 40 loài côn trùng gây hại đã được ghi nhận, hầu hết các loài gây hại này đang được kiểm soát tự nhiên hiệu quả nhưng một số loài cần có tác động quản lí phù hợp từ con người.
Các loài gây hại thường gặp trên dừa bao gồm: Oryctes boas Fabricius, Oryctes rhinoceros, Oryctes monoceros, Scapanes australis Boisduval, Strategus aloeus, Strategus anachoreta Burmeister, Strategus jugurtha Burmeister, Strategus quadrifoveatus, Leucopholis nénophora Burmeister, Brontispa longissima Gestro, Plesispa_ reichei Chapuis, Promecotheca caerulipennis Blanchard, Promecotheca cumingii Baly, Promecotheca papuana Csiki, Cholus zonatus, Rhinostomus barbirostris, Rhynchophorus bilineatus, Rhynchophorus ferrugineus, Rhynchophorus palmarum, Rhynchophorus phoenicis, Necrobia rufipes, Oryzaephilus mercator, Pachymerus nucleorum, Opisina arenosella (Rethinam va Singh, 2007). Trong đó, bo dừa (Brontispa longissima), đuông dùa (Rhynchophorus ferruginenus), kiến vương (Oryctes rhinoceros) và sâu đầu đen (Opisina arenosella Walker) là những loài côn trùng gây thiệt hại nghiêm trọng nhất ở các vùng trồng dừa lớn trên thế giới (Thippaiah, 2020).4 Sâu đầu den hại dừa Opisina arenosella (Lepidoptera: Xyloryctidae) 1.1 Nguồn gốc và phân bố Sâu đầu đen hai đừa có tên khoa học là Opisina arenosella thuộc ho Xyloryctidae, là một trong những loài gây hại chính trên dừa, có khả năng bùng phát mạnh và gây thiệt hại nghiêm trong cho dừa và các loài cây họ cọ khác. Theo Rao va ctv (1948), O. 6 arenosella được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1907 tại Coimbatore của An Độ.
Đến năm 1909, sâu đầu đen hai đừa lần đầu được báo cáo gây hại trên cây dita ở Bapatala và Andhra Pradesh. arenosella đã trở thành loài gây hại chính, gây ra hậu qua nghiêm trọng cho cây dừa ở Ấn Độ. Kết quả tương tự cũng được báo cáo từ Myanmar va Bangladesh (Cock va Perera, 1987). arenosella đã nhanh chóng xâm lan đến 16 quốc gia Chau A bao gồm: Bangladesh, Andhra Pradesh, Delhi, Gujarat, Karnataka, Kerala, Maharashtra, Odisha, Tamil Nadu, West Bengal, Indonesia, Myanmar, Pakistan, Sri Lanka va Thai Lan.
Trong giai đoạn 2010 — 2011, sâu đầu đen hại dừa đã trở thành loài gây hại chính, gây thiệt hại nặng nề cho ngành dừa Thái Lan. Sau đó, dịch hại này đã lan rộng ra các vùng trồng dừa của Thái Lan. Năm 2013, sâu đầu đen hại dừa được ghi nhận tại 19 tỉnh, gây thiệt hại trên 15 nghìn ha trồng dừa với hơn 6 nghìn ha thiệt hại ở mức độ nặng, 5 nghìn ha thiệt hại mức độ trung bình và gần 3 nghìn ha ở mức độ nhẹ. Điều này đã làm tổng sản lượng dừa Thái Lan bị giảm khiến nước nảy phải nhập khẩu trái dừa tươi và nước cốt dừa dé phục vụ cho tiêu thụ trong nước và ngành công nghiệp thực phẩm (Chomphukhiao, 2018).
Tại Trung Quốc, O. arenosella được báo cáo lần đầu tiên vào năm 2013 tại thành phố Wanning, tỉnh Hải Nam và đã tan công nghiêm trọng hầu hết cây họ cọ như dừa (Cocos nucifera L.