Đặt vấn đề Thực vật không chỉ là nguồn thức ăn cho những sinh vật sống khác mà còn 1a nguồn tài nguyên quý giá bởi bản thân các loài thực vật chứa nhiều hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học đặc biệt là những cây dược liệu (Vũ Tuan Minh, 2009). Cay dược liệu hay còn gọi là thảo dược không chỉ được ứng dụng rộng rãi trong ngành Y — Dược mà còn được ứng dụng rộng rãi trong các ngành khác như hương liệu, mỹ pham, thực phẩm chức nang,. Cây Ngai cứu (Artemisia vulgaris) hay còn gọi là cây ngải điệp, ngải tia hay cây thuốc cứu,. Ngai cứu từ lâu đã là loài có tầm quan trọng lớn trong lịch sử y học và được mệnh danh là “mẹ của các loài thảo mộc” ở thời Trung cô (Ekiert va ctv, 2020).
Ngải cứu được dùng dé trị các bệnh phụ khoa, bệnh đường tiêu hóa, giảm đau, kháng nam, kháng khuẩn (Pires, 2009; Blagojevié, 2006; Govindaraj, 2013). Lá và rễ của cây được dùng dé điều trị sâu răng, viêm da do nam ở chân, chữa yếu cơ, dau nhức xương (Perry, 1981). Tia tô đại (Hyptis suaveolens (L.) Poit) còn được gọi là hoắc hương đại, é lớn tròng, tia tô giới,. thuộc họ hoa môi (Lamiaceae).
La và cành cây được dùng dé nấu nước tắm chống thấp khớp, chống nhiễm trùng, chống viêm và có khả năng kháng khuẩn tốt (Kirtikar va Basu, 1991). Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm hình thái thực vật của các cây dược liệu này và công dụng của chúng tuy nhiên chưa có nghiên cứu kết hợp những cây dược liệu trên và đặc biệt trong lĩnh vực ngâm chân dé hỗ trợ điều trị các bệnh lý về xương khớp, chữa nam chân, chữa mất ngủ, ., tac giả đề xuất thực hiện đề tài “Nghiên cứu bao chế bột ngâm chân từ Ngai cứu (Artemisia vulgaris), La lốt (Piper sarmentosum), Tia tô dại (Hyptis suaveolens (L. Mục tiêu của đề tài: Đề tài được thực hiện để chọn ra tỷ lệ phối trộn phù hợp của 3 loại dược liệu Ngai cứu (Artemisia vulgaris), Lá lốt (Piper sarmentosum), Tia tô đại (Hyptis 1 suaveolens (L.) Poit) nhằm tạo ra sản phẩm bột ngâm chân đảm bảo chất lượng phục vụ người tiêu dùng. Đánh giá sơ bộ về thành phần hóa thực vật có trong bột ngâm chân, đánh giá cảm quan và hiệu quả sử dụng sản phẩm.
Nội dung thực hiện Sang lọc nguyên liệu và kiểm nghiệm nguyên liệu tiềm năng, xác định độ am của các nguyên liệu, định tính và định lượng hợp chat flavonoid và terpenoid. Bao chế bột ngâm chân túi lọc, xác định tỷ lệ phối trộn của bột ngâm chân, đánh giá cảm quan lần thứ nhất về mùi hương, màu sắc và kết quả định lượng flavonoid và terpenoid có trong các tỷ lệ nhằm chon ra một tỷ lệ phù hợp dé đánh giá cảm quan lần thứ 2. Khảo sát cảm quan của người sử dụng bột ngâm chân túi lọc thiết kế khảo sát theo nghiên cứu mô tả cắt ngang. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Phan loai Theo hệ thống phân loại của Phạm Hoàng Hỗ (2000), Ngai cứu được phan loại như sau: GIỚI: Plantea (Thực vật) Ngành: Spermatophyta Phân ngành: Angiospermae Lớp: Dicotyledonae Bộ: Asterales Họ: Asteraceae Chi: Artemisia Loai: Artemisia vulgaris 100 80 60 40 20 Hình 2. Dac diém hinh thai Theo Cây cỏ Việt Nam — Quyền III, Ngai cứu là loại cỏ da niên, cao từ 0,5 — 2,5 m và có mùi thơm đặc trưng. Lá mọc so le, mặt trên lá có màu xám đến xanh đen, mặt dưới có lông trắng, có thùy và khía sâu; cuống lá có những cánh nhỏ. Chùm tụ tán hẹp như gié hay hình tháp dài 2 — 10 em, đứng ở nách, cụm hoa đầu gồm nhiều hoa hình ống, hoa nhỏ màu trắng xanh kích thước 3 — 4 mm.
Bề qua không có lông mào. Thường được thu hoạch vao thang 5 — 6. Thành phần hóa thực vật Nhiều nhóm hợp chất khác nhau đã được phân tích trong cây Ngải cứu bao gồm flavonoid, coumarin, saponin, sterol, polyacetylene, carotenoid, vitamin, glycoside cyanogen va tinh dau (Obistioiu va ctv, 2014). Phan loai Theo hệ thống phân loại của Englberger (2009), Lá lốt được phân loại như sau: GIới: Plantea (Thực vật) Ngành: Spermatophyta Phân ngành: Angiospermae Lớp: Dicotyledonae Bộ: Piperales Họ: Piperaceae Chi: Piper Loai: Piper sarmentosum Hình 2.
Dac diém hinh thai La lốt là một loại cây thân mềm, cao từ 30 — 40 em và có thé cao đến 1 m, mọc thắng đứng khi còn nhỏ và mọc bò thành đám khi thân dài, thân hơi có lông. Lá đơn hình trứng hoặc hình trứng mũi mác, phía gốc hình tim, mọc so le, mặt lá láng bóng, mặt dưới hơi có lông, mỗi lá có 5 - 7 gân chính tỏa ra từ cuống, phiến lá dài khoảng 13 cm rộng 8,5 cm. Cụm hoa mọc thành bông ở nách lá, hoa cái dai chừng lcm, cuống dai 1 cm. Qua Lá lốt là loại qua mong và thông thường chỉ chứa 1 hat (Missouri Botanical Garden và ctv, 2008).
Thành phần hóa thực vật Họ hồ tiêu phân bồ rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chúng thường được dùng lam gia vị và một vị thuốc cổ truyền (Burkill, 1966), trong Lá lốt có chứa một số loại hợp chất như alkaloid, amit, pyrone, flavonoid, lignan, neolignan và terpenoid (Parmar va ctv, 1997). Tia t6 dai (Hyptis suaveolens (L. Phan loai Trong dự án bao tồn tài nguyên thiên nhiên va da dạng cây trồng Tia tô dai được United States Department of Agriculture phân loại như sau: GIỚI: Plantea (Thực vật) Ngành: Spermatophyta Phân ngành: Angiospermae Lớp: Dicotyledonae Bo: Lamiales Ho: Lamiaceae Chi: Hyptis Loai: Hyptis suaveolens (L. Tia tô dại 2.
Đặc điểm hình thái Trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam đã miêu tả Tía tô đại là loại cây thân thảo cao I — 1,5 m thân đứng và có phân nhánh, thân lúc còn non hơi tròn khi trưởng thành vuông và có nhiều lông. Lá mọc đối xứng có cuống đài, phiến lá hình trứng dau tù, phía gốc hình tim dai 2 — 6 cm, mép có răng cưa có lông nhiêu ở cả 2 mặt. Cụm hoa mọc thành xim ở kẽ lá, hoa nhỏ có cuông ngăn 5 hon lá, hoa màu xanh hơi tím. Đài hoa hình chuông, có lông, gồm 10 gân và 5 răng như kim.
Quả đóng tu det, rốn rộng. Thành phần hóa thực vật Tia tô dại được sử dụng phổ biến ở các nước châu A về tác dung giảm đau, chống viêm, hạ sốt cũng như dùng để làm thuốc hỗ trợ trí nhớ. Ở Anh một số bài báo đã nghiên cứu về khả năng kháng nam và kháng khuẩn phổ rộng chống lại cả vi khuẩn Gram dương và Gram âm nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về khả năng kháng virus (Sharma, 2013). Đề đạt được những hiệu quả tri liệu đó phải kê đến những thành phan hóa thực vật đa dang có trong cây như: các loại tinh dau, alkaloid, flavonoid, phenol, saponin, terpenoid va sterol (Gayathri và ctv, 2021).
Phuong phap ngam chan Trong cuốn sách Ngâm chan chữa bệnh tại nhà của Khang Quốc Hoa đã nói lên quan hệ mật thiết giữa chân với cơ thể con người. Về mặt huyết học bởi vì chân là bộ phận xa tim nhất và là nơi chịu sức nặng của cơ thé bởi vậy máu xuống chân thi dé nhưng dé máu tuần hoản về tim thì khó, do đó cần sự co bóp của hệ cơ hạ chi ép vào mạch máu để hỗ trợ máu chảy về tim dé dang hơn. Những người có xu hướng ngồi lâu một chỗ hoặc đứng lâu làm cho hệ cơ ở chân co lại, máu kém lưu thông làm ảnh hưởng đến các cơ quan khác dẫn đến dé phát sinh bệnh. Về mặt thần kinh Y học đã chứng minh ở 2 bàn chân có đến 62 khu phan xạ thần kinh liên quan tới toàn cơ thé.
Khi chân hoạt động, mặt đáy gan bàn chân liên tục được kích thích, những tác động này phản xạ lên đại não sẽ điều tiết gián tiếp hoạt động của nội tạng. Trong Đông y, học thuyết Kinh lạc cho rằng con người là một chỉnh thể và giữa tạng phủ kinh lạc cũng là một chỉnh thé, các kinh lạc thông suốt đều được bắt đầu và kết thúc ở chân, duy trì ảnh hưởng lên tạng phủ. Do đó quan hệ giữa chân và tạng phủ chính là một bức ảnh thu nhỏ của quan niệm về chỉnh thé, về hình anh tập trung các bộ phận cơ bản của con người trong lòng bàn chân. Ngâm chân là một biện pháp điều trị và bảo vệ sức khỏe một cách an toàn nhất bởi không xảy ra tác dụng phụ, đặc biệt là không gây tổn hại cho ngũ tang, không gây ra đau đớn như phẫu thuật ngoại khoa cũng như không gây ra biến chứng về xương như khớp bị co lại, hạn chế hoạt động hoặc mat khả năng hoạt động hoàn toàn.
Giá thành cho phương pháp trị liệu nay thấp, hiệu quả lớn, dé sử dụng, thực dụng, hiệu quả thư giãn cao vì vậy phù hợp với mọi người. Qua những nghiên cứu thực tiễn lâm sảng chứng minh: ngâm chân giúp thúc đây tuần hoản máu, kích thích các đầu mút thần kinh, có giá trị thực tế với sức khỏe con người. Ở Trung Quốc có bài vè về lợi ích của việc ngâm chân: “Ngày xuân ngâm chân hết sốt, ngày hè ngâm chân hết cảm, ngày thu ngâm chân mát phổi, ngày đông ngâm chân khỏe tim”. Nhiệt độ ngâm chân ở mỗi nơi có sự khác biệt nhưng không lớn, về cơ bản nhiệt độ nước ngâm trung bình từ 38 — 42 °C.
Tuy nhiên đối với mỗi người có cảm nhận khác nhau có thể thay đôi nhiệt độ nước ngâm sao cho cảm thấy nhẹ nhàng, sức khỏe tốt hơn, tinh than dé chịu hơn. Flavonoid Flavonoid là các hợp chất tự nhiên có tác dụng rất quan trọng, chúng thuộc nhóm hợp chất chuyên hóa thứ cấp thực vật có cấu trúc là một khung phenyl benzopyran: gồm hai vòng phenyl (A và B) được nối với nhau qua một mạch 3 cacbon. Những nhóm chất này tham gia trong quá trình hoạt động của enzyme oxy hóa — khử, có tác dụng tích cực đối với sức khỏe con người và động vật như: ngăn ngừa nguy cơ xơ vữa động mạch, tai bién mach, lão hóa, tổn thương do bức xạ, thoái hóa gan, hoạt động chống viêm, thoái hóa thần kinh,. Phần lớn các flavonoid được công nhận là sắc tố của hoa trong hầu hết các loại thực hạt kín, tuy nhiên chúng không chỉ được phát hiện ở hoa mà còn ở nhiều bộ phận khác của cây.
Hiện nay có khoảng 6000 loại flavonoid góp phần tạo nên màu sắc sặc sỡ của các loại trái cây, rau, thảo mộc. Flavonoid Isoflavonoid Neoflavonoid Hình 2.