MỞ ĐẦU Ở Việt Nam ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và đƣợc xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Ngành thủy sản có vai trò quan trọng không chỉ ở sản lƣợng khai thác mà còn có nhiều ý nghĩa: Cung cấp lƣợng lớn chất đạm cho ngƣời dân; tạo việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cƣ ven biển, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội; Là nguồn thu ngoại tệ lớn thông qua xuất khẩu các sản phẩm thủy sản; Góp phần bảo vệ an ninh lƣơng thực. Nhƣng bên cạnh đó cũng gây ra những tác động không nhỏ đến môi trƣờng, nguồn lợi và nguy hại đến phát triển bền vững trong tƣơng lai nếu không đƣợc hoạch định, quản lý đúng đắn. Cô Tô là một huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh - nơi đƣợc biết đến nhƣ một lá chắn bảo đảm an ninh quốc phòng phía Đông Bắc Tổ quốc Việt Nam.
Huyện đảo Cô Tô gồm một hệ thống đảo nằm ở ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, cầu nối giữa đất liền và biển khơi. Vị trí địa lý của huyện Cô Tô có điều kiện đặc biệt thích hợp cho phát triển ngành thủy sản: Xung quanh huyện đảo đƣợc bao quanh bởi biển Đông và cách các ngƣ trƣờng lớn không xa; Với bờ biển khúc khuỷu tạo thành các vũng vịnh kín là tiềm năng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản; Nguồn lợi thủy sản phong phú, vùng này có nhiều đặc sản nhƣ: trai ngọc, bào ngƣ, hải sâm, sá sùng, tu hải, tôm he,. Cảng cá Thanh Lân và Cô Tô là cơ sở hậu cần dịch vụ rất tốt cho nghề cá, đã trở thành nơi hội tụ của các tàu khai thác hải sản của tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh khác; Ngoài ra, chợ cá trên biển tạo điều kiện giao lƣu, tiếp cận thị trƣờng Trung Quốc. Với lợi thế trên 300km2 là diện tích ngƣ trƣờng dành cho đánh bắt, khai thác thuỷ sản, huyện đảo Cô Tô đã xác định phát triển thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phƣơng.
Do vậy, trong mấy năm qua, hiệu quả các hoạt động khai thác, nuôi trồng của ngƣ dân huyện đảo không ngừng tăng cao. Tổng sản lƣợng khai thác và đánh bắt liên tục tăng. Nếu nhƣ năm 1998, toàn Hoàng Thị Ngọc Linh 1 Cao học khóa 2008 - 2010 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động ngành thủy sản huyện đảo Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh và định hướng phát triển hợp lý huyện mới khai thác đƣợc 1.255 tấn thuỷ sản các loại thì đến năm 2010 đã lên tới 14. Cùng với khai thác và đánh bắt xa bờ, những năm gần đây nghề nuôi trồng thuỷ sản của huyện đã có bƣớc phát triển đáng kể, nhất là nuôi cá lồng bè và các loại hải sản quý.
Toàn huyện có hơn 30 mô hình nuôi cá lồng bè trên biển, với các loại cá có giá trị kinh tế cao nhƣ: Song, giò, chấm lang, hồng. Nhiều gia đình đầu tƣ nuôi tôm càng xanh, tôm hùm, ốc hƣơng. cho hiệu quả cao và đang mở ra một hƣớng làm ăn có triển vọng cho ngƣ dân Cô Tô. Tuy nhiên các hoạt động thủy sản trong quá trình phát triển kinh tế của huyện đảo không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực tới môi trƣờng.
Chính vì vậy luận văn “Ảnh hƣởng đến môi trƣờng của hoạt động ngành thủy sản huyện đảo Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh và định hƣớng phát triển hợp lý” đƣợc lựa chọn để đáp ứng tính cấp thiết thực tiễn trên. Mục tiêu của luận văn nhằm xác định, đánh giá các hoạt động phát triển thủy sản tới chất lƣợng môi trƣờng huyện đảo Cô Tô, định hƣớng các giải pháp nhằm thực hiện phát triển bền vững ngành thủy sản của Huyện. Chúng tôi hy vọng rằng, những nội dung khoa học của luận văn không chỉ phục vụ cho tiêu chí đào tạo mà còn mong muốn đƣa ra một số cơ sở khoa học phục vụ dự án quy hoạch phát triển bền vững ngành thủy sản của Huyện góp phần cho phát triển kinh tế của địa phƣơng. Hoàng Thị Ngọc Linh 2 Cao học khóa 2008 - 2010 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động ngành thủy sản huyện đảo Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh và định hướng phát triển hợp lý CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hoạt động phát triển ngành thủy sản trên thế giới và ở Việt Nam 1. Trên thế giới Tình hình đánh bắt và nuôi trồng thủy sản thế giới giai đoạn 2000 - 2010 có tốc độ phát triển khá ổn định. Tổng sản lƣợng thủy hải sản trên thế giới bình quân tăng 1.
Cơ cấu nguồn cung dịch chuyển theo hƣớng tăng sản lƣợng thủy sản nuôi trồng và giữ ổn định nguồn khai thác tự nhiên. Nguyên nhân do thủy sản đánh bắt ngày càng cạn kiệt và sự cải tiến kỹ thuật cho phép gia tăng năng suất nuôi trồng. Năm 2000 sản lƣợng nuôi trồng thủy sản chiếm 26% tổng sản lƣợng thủy sản, tới năm 2009 mảng nuôi trồng thủy sản đã đóng góp 37% tổng sản lƣợng. Năm 2010, tổng sản lƣợng thuỷ sản toàn thế giới đạt khoảng 147 triệu tấn, tăng 1,3% so với năm 2009.
Trong đó, sản lƣợng đánh bắt duy trì xu hƣớng giảm nhẹ khi giảm từ 90 triệu tấn trong năm 2009 xuống còn 89,8 triệu tấn trong năm 2010 (tƣơng đƣơng mức 0,2%). Sản lượng thủy hải sản thế giới (triệu tấn) Sản lƣợng thủy sản thế giới (triệu tấn) 150 147 145 140 142 142 140 137 137 134 Sản lƣợng 135 126 128 127 130 125 125 120 115 110 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Nguồn:FAO Năm Hoàng Thị Ngọc Linh 3 Cao học khóa 2008 - 2010 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động ngành thủy sản huyện đảo Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh và định hướng phát triển hợp lý Biểu đồ 1. Cơ cấu đánh bắt - nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2009 (Nguồn: FAO) Khu vực Châu Á chiếm ƣu thế, cung cấp trên 60% lƣợng thủy sản hàng năm. Trong đó, Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, chiếm 35% sản lƣợng thủy sản toàn cầu và 69% sản lƣợng nuôi trồng thế giới năm 2009.
* Nhu cầu tiêu thụ Hình 1. Nhu cầu tiêu thụ thủy sản thế giới Theo nghiên cứu, mức tiêu dùng thủy sản ở các quốc gia rất khác nhau và không có mối liên hệ chặt chẽ với mức sống và khả năng chi trả của ngƣời dân. Một số quốc gia có thu nhập trung bình lại có mức tiêu thụ thủy sản/ngƣời/năm tƣơng đối cao nhƣ Malaysia (55.1kg)… trong khi đó, dân cƣ các khu vực có mức sống cao nhƣ EU, Mỹ tiêu dùng thủy sản Hoàng Thị Ngọc Linh 4 Cao học khóa 2008 - 2010 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động ngành thủy sản huyện đảo Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh và định hướng phát triển hợp lý khá thấp. Các nƣớc nhƣ Iceland (90.5kg), Nhật Bản (63.2kg) lại nằm trong trƣờng hợp mức sống và tiêu thụ đều tốt.
Vì vậy có thể thấy rằng, khả năng tiêu thụ thủy sản bình quân đầu ngƣời phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố nhƣ tập quán ẩm thực, vị trí địa lý (gần biền) và thƣờng ít có sự đột biến. Trong vòng 40 năm trở lại đây, nhu cầu thủy sản tăng cao, khoảng 3%/năm, tăng nhanh so với tốc độ tăng trƣởng dân số là 1. Các sản phẩm thủy sản cung cấp 16% lƣợng đạm động vật cho toàn thế giới và 30% - 50% ở châu Á. Tiêu dùng thực phẩm thủy sản bình quân đầu ngƣời từ năm 2006 ở mức 16.8 kg/ngƣời/năm.
Theo dự phóng của FAO, trong giai đoạn hiện tại đến 2025, tốc độ tăng tiêu dùng thủy sản sẽ tăng khoảng 2%/năm, nhỉnh hơn tốc độ dự phóng tăng trƣởng dân số là 1. Tiêu thụ thủy sản /người/năm tại Nhật Hoàng Thị Ngọc Linh 5 Cao học khóa 2008 - 2010 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động ngành thủy sản huyện đảo Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh và định hướng phát triển hợp lý Biểu đồ. Tiêu thụ thủy sản/người/năm tại Mỹ Biểu đồ 1. Tiêu thụ thủy sản và mức tăng trưởng dân số tại EU Nguồn: NOAA (Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ) 1.
Ở Việt Nam Với đƣờng bờ biển dài hơn 3.200 km; Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng hơn 1 triệu km2. Việt Nam cũng có vùng mặt nƣớc nội địa lớn rộng hơn 1,4 triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc. Vị trí Hoàng Thị Ngọc Linh 6 Cao học khóa 2008 - 2010 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động ngành thủy sản huyện đảo Cô Tô - tỉnh Quảng Ninh và định hướng phát triển hợp lý địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội để phát triển ngành thủy sản ở các lĩnh vực nhƣ khai thác, nuôi trồng và hậu cần dịch vụ. Trong đó, có thể phát triển nuôi trồng thủy sản ở tất cả các vùng sinh thái khác nhau, từ vùng núi, trung du, đồng bằng đến các vùng biển đảo.
Việc khai thác thủy sản ở hầu hết các thuỷ vực từ vùng ven bờ đến vùng khơi, hay sâu trong nội địa; Việc phát triển hệ thống cảng cá, bến cá ở các vũng vịnh, cửa sông và tuyến đảo. Vì thế, sản xuất thuỷ sản nƣớc ta đƣợc xem là một nghề truyền thống, gắn bó với các cộng đồng dân cƣ ở các vùng nông thôn và ven biển. Đƣa nghề cá trong nƣớc thành nghề cá nhân dân, một ngành kinh tế đi đầu trong hội nhập kinh tế thế giới và đã phát huy mạnh mẽ nhiều mô hình kinh tế “dân doanh” thu hút các thành phần kinh tế đầu tƣ phát triển ngành. Từ năm 1990 đến nay [10] tổng sản lƣợng thuỷ sản tăng gấp 4,1 lần, với tốc độ tăng trƣởng bình quân năm 8,11%/năm; Đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng 18,5 lần, tƣơng đƣơng với tốc độ tăng trƣởng bình quân năm 17,61 %/năm; Giá trị sản xuất tăng gấp 5,7 lần, đƣa tốc độ tăng trƣởng bình quân năm 10,19 %/năm; Giải quyết lao động gấp 2,5 lần và đạt tốc độ tăng bình quân năm 5,26 %/năm.
Để đạt đƣợc những thành tựu trên, đƣợc đóng góp từ nuôi trồng với sản lƣợng luôn tăng 6,7 lần và tốc độ tăng trƣởng 11,17 %/năm. Trong khi đó sản lƣợng khai thác chỉ tăng 2,9 lần và tốc độ tăng trƣởng 6,12%/năm.