Đặt vấn đề Nam ăn là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Hàm lượng protein chiếm 4 - 9% theo trọng lượng tươi và có loài chiếm đến 45 - 50% theo khối lượng khô. Nắm chứa hau hết các loại acid amin quan trọng, trong đó có khoảng 25 - 35% là acid amin dang tự do. Hàm lượng muối khoáng trong nam rat cao, cao hơn cả trong thịt và cá.
Đặc biệt, trong nam chứa nhiều loại vitamin không có trong nhiều loại rau như B2, B12. Nam còn có thé chữa bệnh béo phì, chống tim mạch, bệnh phổi, bệnh tê thấp và chống ung thư (Nguyễn Hữu Đống và Đinh Xuân Linh, 2000). Với lợi thé là một nước nông nghiệp với nguồn phụ phẩm, phế phẩm giàu chat xơ cộng với điều kiện nhiều vùng khí hậu khác nhau nên nước ta có thé trồng nhiều loại nắm quanh năm. Một số loài nắm đã được nuôi trồng phô biến ở nước ta có thể ké đến như: nam rơm, nắm sò, nam mộc nhĩ, nam mỡ,.
và trong số nhiều loại nam ăn ngon, giàu chất đinh dưỡng đó thì loại được thị trường ưu chuộng nhất có thé kế đến nắm Bào ngư xám. Với tính chat dé trồng, có khoảng chịu nhiệt rộng từ 25 - 30°C cộng với việc có thé nuôi trồng trên nhiều loại môi trường khác nhau như gỗ, mạt cưa, rơm rạ, bông thải, cà phê,. nên nắm Bào ngư xám thường chiếm sản lượng lớn về nuôi trồng ở khắp cả nước. Mặc khác, một trong những thực trạng đáng lo ngại đối với tình hình sản xuất nắm của nước ta hiện nay chính là việc kiểm soát được chất lượng nguồn giống, đa phần các giống nắm được nuôi trồng ở nước ta đều được nhập từ nước ngoai, một số ít cũng được sưu tầm trong nước.
Giống qua một thời gian nuôi trồng dé bị thoái hóa, khả năng thích nghi với điều kiện môi trường bị giảm, thời gian thu hoạch kéo dai dẫn đến tình trạng khó kiểm soát được các tác nhân gây bệnh trong quá trình nuôi trồng, điều này sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng và sản lượng nam thu hoạch, ảnh hưởng tới kinh tế của nhiều hộ nông dân khi việc nuôi trồng và chăm sóc nam ngày càng khó. Vì vậy cần phải có những phương pháp đề bảo tồn, cải tạo và phục hồi nguồn giống đề đáp ứng cho nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên đề tài “Khảo sát sự ảnh hưởng của các liều chiếu xa (Gamma Co-60) đến sinh trưởng và phát triển của nam Bào ngư xám (Pleurotus sajor-caju) ở thê hệ thứ nhất”. Đã được thực hiện nhằm khảo sát khả năng sinh trưởng và phát triển của giống nắm Bào ngư xám sau khi chiếu xạ trên các môi trường dinh dưỡng khác nhau, đánh giá chất lượng của giống chiếu xạ thông qua năng suất và thời gian thu hoạch từ đó đánh giá phương pháp này có phù hợp dé cải tạo được chất lượng của nguồn giống hay không.
Nguồn xạ gamma Co-60 được sử dụng bởi vì chúng có năng lượng cao, thời gian thực hiện nhanh, được chứng minh là an toàn và hữu ích trong việc tuyển chọn giống, tia gamma có thé tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến vật chất di truyền của nam Bao ngư xám, tao ra nhiều kiểu hình khác nhau, từ đó giúp cho nhà nghiên cứu có thé tuyên chọn được các đòng mà mình mong muốn. Mục tiêu đề tài: Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của nắm Bào ngư xám ở các liều chiếu xạ khác nhau trên từng môi trường nhân giống. Đánh giá chất lượng của giống thông qua năng suất và thời gian thu hoạch. Nội dung thực hiện: Nội dung 1: Chiếu xạ giống nắm Bào ngư xám ở các liều lượng khác nhau.
Nội dung 2: Khao sát sự sinh trưởng và phát triển của giống nắm Bào ngư xám ở từng liều chiếu xạ khác nhau trên môi trường đinh dưỡng cấp một, cấp hai và bịch phôi. Nội dung 3: Đánh giá năng suất và thời gian thu hoạch của nắm Bao ngư xám. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về nam Bào ngư xám 2.
Đặc điểm tổng quát Nam Bao ngư xám hay còn gọi là nắm dai (ở miền Nam), nam sò xám, nam hương chân ngắn (ở miền Bắc) có tên khoa học là Pleurotus Spp. Gồm nhiều loài thuộc: Ngành: Basidiomycota Lớp: Hymenomycetes Bộ: Agaricales Họ: Pleurotaceae Chi: Pleurotus Với hơn 20 loài và chủng được nuôi trồng trên toàn thé giới, chi Pleurotus là một trong những nhóm nắm ăn đa dạng nhất. Cho đến nay, quan hệ di truyền cũng như việc phân loại các loài thuộc chi Pleurotus vẫn chưa được hiểu rõ và chưa thống nhất. Vào năm 2008, Kirk và ctv đã phân loại các loài thuộc chi Pleurotus thành khoảng 20 loài.
Trong khi đó, theo Chang và Nguyễn Lân Dũng thì chỉ Plewrotus gồm khoảng 50 loài (Chang và ctv, 2004; Nguyễn Lân Dũng, 2003). Theo Singer (1975) nắm Bào ngư chia làm 4 nhóm, trong đó có 2 nhóm lớn là: Nhóm ôn hòa (ưa nhiệt trung bình): ra quả thể ở 10 — 200C. Nhóm ưa nhiệt: ra quả thé ở 20 — 30°C, đây là nam có nhiều loài và được nuôi trồng nhiều nhất ở Pháp. Phần loại Nam Bào ngư màu hồng đào (Pleurotus địamor) Nam Bao ngư xám (Pleurotus sajor-caju) Nam Bao ngu Hoang Bach (Pleurotus cornucopiae) Nam Bao ngu Kim Dinh (Pleurotus citrinipileatus) Nam Bao ngu Dai Loan (Pleurotus cystidiosus) 2.
Đặc điểm hình thái Cũng như các loài nam Bào ngư khác, nam Bào ngư xám có hình dang quả thé phẳng, lúc gia mới cong lai, mũ nam có hình tròn, đường kính mũ nam 5 — 15 em. Màu trắng tro hay nâu xám, thịt nấm day vừa phải, mau trang. Cuống nam mau trắng, trên to dưới nhỏ, gốc cuống có lông nhung (Nguyễn Lân Dũng, 2003). 3 Nam Bào ngư có nhiều chủng khác nhau.
Chúng khác nhau về màu sắc hình dạng kích thước, khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ khác nhau, tai nắm Bào ngư phát triển qua nhiều giai đoạn, dựa theo hình dạng có tên gọi tương ứng: dạng san hô, dạng dui trống, dạng phéu, dang phéu lệch và dang lá lục bình. Dạng san hô: quả thể mới tạo thành dạng sợi mảnh hình chum. Dạng dùi trống: mũ xuất hiện dạng khối tròn đường kính cuống và mũ không khác nhau bao nhiêu. Dạng phéu: mũ mở rộng trong khi cuống còn ở giữa phéu (giống hình cái phéu).
Dạng phéu lệch: cuống lớn nhanh một bên sau đó bắt đầu lệch so với vị trí trung tâm mũ. Dạng lá lục bình: cuống ngừng tăng trưởng nhưng mũ vẫn tiếp tục phát triển, mép bìa thắng đến gợn sóng. Từ giai đoạn phéu sang dạng phéu lệch có sự thay đổi về chat (giá trị dinh dưỡng tăng), còn từ giai đoạn phéu lệch sang giai đoạn lá lục bình thì trọng lượng tăng, sau đó giảm dần. Vì vậy khi thu hái nắm Bào ngư xám nên chọn giai đoạn lúc tai nắm vừa chuyền sang dạng lá.
Đặc điểm sinh học Chu kỳ sống của nắm bắt đầu từ đảm bào tử hữu tính nảy mầm cho sợi dinh dưỡng sơ cấp và thứ cấp, kết thúc bằng việc hình thành cơ quan sinh sản là tai nắm. Khi nam trưởng thành, bao tử nấm chín và phát tán ra khỏi mũ nam. Các luồng không khí đưa bảo tử rải rác xung quanh gặp điều kiện môi trường thuận lợi từ bảo tử nắm sẽ phát triển thành sợi sơ cấp theo từng sợi riêng lẻ. Sau một thời gian các tế bao ở các sợi nam khác nhau dung hợp với nhau hình thành hệ sợi thứ cấp.
Hệ sợi nắm thứ cấp gồm các tế bao có hai nhân. Sau một thời gian phát triển từ các tế bào có hai nhân mọc lên quả thé và phát triển thành cây nắm hoàn chỉnh. r4 to nấm bảo tử nấy mầm Pr yee TMa o”TM nấm ` ⁄ XI? | ” ụ dang dui trồng đảm bao tử dạng lá lục bình dạng phểu Là thành) Pi Jang ban cầu lệch Hinh 2. Chu trình sinh trưởng của nam Bao ngư xám.
Đặc điểm sinh trưởng Một số yếu tô ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của nam Bao ngư xám đó là nhiệt độ, độ ầm, pH, anh sáng, oxy và dinh dưỡng,. các chất trong nguyên liệu phải được pha trộn theo công thức thích hợp dé cung cấp đủ dinh dưỡng cho sự phát triển của tơ nam. Nhiệt độ Nam bào ngư có nhiều chủng loại khác nhau với khả năng phân bố nhiệt khá rộng. Đối với bào ngư tím (Pleurotus ostreatus) có thé ra nam ở nhiệt độ 15°C, thậm chí có thé sốc lạnh ở 5°C trong 24 giờ trước khi chuyên sang 15°C.
Một số loài khác cần từ 25 - 32°C (Lê Duy Thắng và Trần Van Minh, 2005). Nhiệt độ thích hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của một số loài nam Bao ngư (Nguồn: Lê Duy Thắng và Tran Văn Minh, 2005) „ Nhiệt độ thích hợp hình Loài nam bào ngư Nhiệt độ nuôi tơ thành quả thể P. Độ am Độ am rat quan trong trong ca quá trình nuôi tơ và cho ra nam, khi phối trộn nguyên liệu thì độ 4m phải đạt từ 55 - 65%, nhiệt độ phải đạt từ 65°C, trong quá trình nuôi tơ phải dam bảo độ 4m không khí không nhỏ hơn 70%. Ở giai đoạn nuôi trồng độ am thích hợp dé nam ra qua thé phải đạt từ 85 - 90%.
Nếu độ âm quá thấp dưới 60% thì nắm không cho quả thé, độ âm quá cao trên 95% thì tai nam sẽ bị nhũn và rũ xuống. Độ âm thích hợp cho sự sinh trưởng của một số loài nắm bào ngư (Nguồn: Nguyễn Thu Thảo, 2011) ¬ Độ ẩm thích hợp Độ ẩm tương đối của không khí Một sô loài nam ° l bào ngư phô biến của cơ chất “9 (%) Nuôi tơ Ra quả thê P. Ánh sáng Ánh sáng rất cần thiết trong quá trình nuôi trồng của nam Bao ngư giúp kích thích nụ nam phát triển, nhà nuôi trồng nắm cần có ánh sáng khoảng 200 - 300 lux (ánh sáng khuếch tán). Giai đoạn phát triển qua thé cần ánh sáng khoảng 300 - 500 lux dé đáp ứng nhu cầu quả thé lớn lên còn nếu ánh sáng yêu sẽ làm chân nam dai và mũ hẹp, ánh sáng không cần thiết trong giai đoạn nuôi tơ.
Không khí Trong quá trình hình thành qua thé nam sử dụng O> và thải khí CO, vì vậy phải điều chỉnh hàm lượng không khí thích hợp, nhà trồng phải thoáng khí, mát mẻ. Nếu thiếu oxy thì mũ nắm sẽ hẹp lại và chân nắm sẽ dài ra, làm tai nắm bị biến dạng dẫn đến giảm năng suất và chất lượng.