Đặt vấn đề Ở nước ta chăn nuôi theo phương thức sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển mạnh mẽ. Chăn nuôi trang trại với quy mô lớn dần thay thế cho chăn nuôi nông hộ, chăn nuôi nhỏ lẻ. Chăn nuôi trang trại tạo nền tảng để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến về giống, chuồng trại, thức ăn, phòng trừ dịch bệnh và quản lý có hiệu quả cao hơn, nhằm tăng năng suất chăn nuôi, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Sự thay đổi về phương thức sản xuất, cơ cấu đàn nái cũng được thay đổi.
Đàn nái ngoại trong các trang trại chiếm 81,10% chủ yếu là lợn giống Landrace và lợn Yorkshire, trong đó đàn lợn nái lai giữa các giống ngoại chiếm 51,1% so với tổng đàn (Vũ Đình Tôn và cs, 2007)[23]. Trong công tác chọn giống vật nuôi thường dựa vào phương pháp di truyền số lượng để chọn lọc và nhân giống nhằm cải thiện khả năng sinh sản cũng như tăng năng suất và chất lượng thịt. Năng suất của một cá thể bị ảnh hưởng bởi bản chất di truyền của nó và các yếu tố môi trường. Vì vậy, một cá thể lợn có năng suất cao có thể do di truyền hoặc ngoại cảnh tốt hoặc là do sự kết hợp của cả hai yếu tố này với nhau.
Các tính trạng sinh sản là những tính trạng số lượng thường có hệ số di truyền thấp, chúng chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố ngoại cảnh, vì vậy việc chọn lọc cho các tính trạng này khó mang lại hiệu quả (Bunter, 1997[28]; Tom Long, 1995[54]). Ngày nay, công nghệ gen được ứng dụng rộng rãi trong sinh học nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng. Một trong những ứng dụng có tính chất đột phá trong công tác giống lợn là chọn giống với sự hỗ trợ của công nghệ gen. Nhờ phương thức chọn giống mới này mà năng suất đàn giống được cải thiện nhanh chóng so với các phương pháp chọn giống truyền thống trước đây.
c 2 Một số các gen ứng viên có liên quan đến năng suất sinh sản của lợn đã được các nhà khoa học trên thế giới khai thác như là RBP4 (Retiol-Binding Protein 4), RNF4 (Ring Finger Protein 4),ESR1 (Estrogen Receptor 1), IGF2 (Insulin like Growth Factor 2).Gen RBP4 được biết đến là đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng năng suất sinh sản của lợn nái đặc biệt đối với các tính trạng số con đẻ ra, số con đẻ ra còn sống. Trên locus gen RBP4 có gen alen A và B. Terman và cs (2007)[53] chỉ ra rằng lợn nái mang kiểu gen BB có số con đẻ ra, số con còn sống, số con cai sữa sữa cao hơn so với nái mang kiểu gen khác. Kết quả công bố của Olliviervà cs(1997)[47] cũng chỉ ra rằng kiểu gen BB làm tăng 0,4 lợn con/lứa so với nhóm đối chứng.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của kiểu gen RBP4 đến các tính trạng sinh sản của lợn nái, Wangvà cs(2006)[57] chỉ ra rằng lợn nái mang kiểu gen BB có số con đẻ ra/lứa nhiều hơn so với nái mang kiểu gen AA và AB. Các tính trạng sinh sản của lợn nái cũng ảnh hưởng bởi gen RNF4. Kết quả nghiên cứu của Niu và cs(2009)[45] cho thấy nái mang kiểu gen CC có số con đẻ ra và số con còn sống cao hơn so với nái mang kiểu gen TT là 1,74 và 2,02 tương ứng. Theo tác giả này gen RNF4 được sử dụng để chọn lọc làm tăng năng suất sinh sản của lợn nái.
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào đánh giá ảnh hưởng của gen RNF4 và RBP4 đến năng suất sinh sản của lợn nái. Do đó, đề tài này được tiến hành với mục đích đánh giá ảnh hưởng của gen RNF4 và RBP4 đến năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire; từ đó góp phần định hướng chọn lọc lợn nái sớm hơn, nâng cao năng suất của đàn lợn nái, giảm được số lượng lợn nái nuôi hậu bị cũng như cơ cấu đàn nái trong tổng đàn. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Đánh giá ảnh hưởng của gen RNF4 và RBP4 đến các tính trạng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận, cơ sở khoa học về ảnh hưởng của các kiểu gen đến năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và lợn nái Yorkshire.
- Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở giúp cho công ty TNHH lơ ̣n giố ng ha ̣t nhân D abaco nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái. c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2. Điều kiê ̣n tự nhiên Công ty TNHH lơ ̣n giố ng ha ̣t nhân Dabaco thuô ̣c xã Tân Chi - Huyê ̣n Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh.
Tiên Du nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa. Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa biến động thất thường qua các năm, lượng mưa/tháng từ 125,2mm (tháng 10) đến 283,3mm (tháng 8) và thường phân bố không đồng đều trong năm, vào mùa mưa lượng mưa chiếm khoảng 84,64% tổng lượng mưa cả năm. Hàng năm có 2 mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm mưa rào.
Độ ẩm không khí trung bình/năm khoảng 84%, trong đó tháng có độ ẩm không khí lớn nhất khoảng 88% (tháng 3), tháng có độ ẩm không khí thấp nhất khoảng 70% (tháng 12). Nhìn chung Tiên Du có điều kiện khí hậu thuận lợi thích hợp cho trồ ng trọt và chăn nuôi. Mùa đông có thể trồng nhiều cây hoa màu ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên cũng cần phải chú ý đến các hiện tượng bất lợi như nắng, nóng, lạnh, khô hạn và lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa… để có kế hoạch chỉ đạo sản xuất cho hợp lý.
Yếu tố hạn chế nhất đối với sử dụng đất là do mưa lớn tập trung theo mùa thường làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích. Cơ sở vật chấ t của cơ sở thực tâp̣ Trang trại được thiết kế có đầy đủ các công trình phụ như kho chứa cám, lối sát trùng trước khi vào trại , hố vôi sát trùng trước khi vào chuồng và hệ thống xử lý nước thải biogas giúp đảm bảo quy trình vệ sinh thú y và quy trình vệ sinh môi trường của trại. Trang trại được xây dựng thành 2 khu vực chăn nuôi chính là khu chăn nuôi nái sinh sản và khu vực chăn nuôi lợn thịt. Các dãy chuồng đều được xây theo mô hình chuồng kín, sử dụng giàn mát và quạt hút gió để điều chỉnh nhiệt độ và độ ẩm không khí ra vào chuồng.
Mái chuồng được xây theo kiểu 2 mái và được lợp bằng tôn cách nhiệt giúp chống nóng tốt vào mùa hè. Trang tra ̣i đươ ̣c xây dựng ở xa khu dân cư nên viê ̣c phòng bê ̣nh và xử lí chấ t thải khá dễ dàng. Khu nuôi lợn nái gồm 3 chuồng nái đẻ, 2 ô chuồng nái chờ phối và nái chửa, 4 ô chuồng lợn con sau cai sữa. Khu nuôi lợn hâ ̣u bi ̣gồm 7 ô chuồng.
Với số lượng ô chuồng nuôi như trên và thời điểm phối giống hợp lý giúp đảm bảo luôn đủ chuồng nuôi không lo thiếu chuồng. Máng ăn cho nái được làm bằng inox giúp dễ dàng trong việc dọn rửa và cho ăn được dễ dàng. Lợn nái được nuôi trên tấm đan bê tông vững chắc, còn lợn con được nuôi trên sàn nhựa. Lợn được cho ăn bằng máng ăn tự động ở tấ t cả các khu chăn nuôi : Đẻ, hâ ̣u bi ̣, cai sữa , phố i chử a, các silo chứa thức ăn được bố trí ở bên ngoài các chuồ ng để tiê ̣n cho viê ̣c bổ sung cám và vê ̣ sinh.
Sàn chuồng được làm bằng bê tông có độ dốc và độ nhám đảm bảo giúp chuồng luôn khô ráo và tránh trơn trượt cho lợn. Nước uống cung cấp là nước sạch bơm lên các téc nước từng chuồng và nước qua hệ thống ống dẫn đến các ô chuồng. Trong các ô chuồng có các núm uống tự động phù hợp với từng loại lợn. c 6 Các chuồng được cung cấp chủ yếu là ánh sáng tự nhiên.
Chuồng nái chờ phối, chửa và chuồng thịt có các cửa sổ giúp ánh sáng có thể chiếu vào, còn chuồng nái đẻ có chỗ làm bằng tôn nhựa lấy sáng giúp ánh sáng có thể xuyên qua. Ngoài ra, mỗi chuồng còn có các bóng đèn compact 3000W, để thắp sáng vào những ngày âm u và thắp thường xuyên vào buổi tối đến sáng ngày hôm sau trong chuồng lợn đẻ. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 2. Đối tượng Đực Duroc,Đực Petrain, Nái Landrace, nái Yorkshire 2.
Kế t quả sản xuấ t của cơ sở Bảng 2. cơ cấ u đàn của trang tra ̣i 3 năm gầ n đây 2014 2015 2016 N % N % N % Tổ ng số nái (con) 314 14,44 370 12,87 542 15,58 Tổ ng số đực giố ng 35 1,61 59 2,05 92 2,65 (con) Tổ ng số lơ ̣n thiṭ (con) 1826 83,95 2445 95,08 2845 81,77 Tổ ng số lơ ̣n (con) 2175 100 2874 100 3479 100 Qua bảng 2.1 cho thấ y cơ cấ u đàn của trang tra ̣i qua các năm có xu hướng tăng dầ n. Tổ ng số nái năm 2014 là 314, năm 2015 là 370 và đến năm 2016 là 542. Tổ ng số đực giố ng năm 2014 là 35, năm 2015 là 59 và đến năm 2016 là 92.
Tổ ng số lơ ̣n thiṭ năm 2014 là 1826, năm 2015 là 2445 và đến năm 2016 là 2845. Tổ ng số lơ ̣n năm 2014 là 2175, năm 2015 là 2874 và năm 2016 là 3479. Tổ ng quan tài liêụ Trong chọn lọc giống vật nuôi để đạt kết quả tốt, trước hết cần có những kiến thức cơ bản về di truyền, đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu c 7 thế lai của từng tính trạng. Bản chất sinh học của mỗi giống vật nuôi đều được thể hiện qua kiểu hình đặc trưng riêng của nó.