Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh và chế phẩm probiotic bổ sung vào thức ăn đến khối lượng cai sữa khối lượng xuất chuồng và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt lai ba máu duroc x yl nuôi tại thái nguyên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh và probiotic đến hiệu quả chăn nuôi lợn thịt lai ba máu Duroc x YL tại Thái Nguyên.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

63
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khối lượng sơ sinh và ảnh hưởng đến chăn nuôi lợn thịt

Khối lượng sơ sinh là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và phát triển của lợn. Nghiên cứu chỉ ra rằng lợn có khối lượng sơ sinh cao thường có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn ở các giai đoạn sau. Điều này được giải thích bởi sự tích lũy dinh dưỡng từ giai đoạn bào thai, giúp lợn con có nền tảng tốt để phát triển. Các giống lợn ngoại như Duroc x YL thường có khối lượng sơ sinh cao hơn so với giống nội, điều này góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Việc chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai, đặc biệt là 20 ngày trước khi đẻ, đóng vai trò quyết định trong việc cải thiện khối lượng sơ sinh của lợn con.

1.1. Mối quan hệ giữa khối lượng sơ sinh và tăng trưởng

Nghiên cứu cho thấy khối lượng sơ sinh có mối tương quan chặt chẽ với tăng trưởng trọng lượng của lợn. Lợn con có khối lượng sơ sinh cao thường đạt khối lượng cai sữakhối lượng xuất chuồng lớn hơn. Điều này được chứng minh qua các số liệu thống kê, trong đó lợn có khối lượng sơ sinh từ 1.2-1.5 kg có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 20-30% so với lợn có khối lượng sơ sinh thấp hơn. Việc cải thiện khối lượng sơ sinh thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý cho lợn nái là một giải pháp hiệu quả để nâng cao năng suất chăn nuôi.

1.2. Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh đến sức khỏe lợn

Khối lượng sơ sinh không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng mà còn liên quan đến sức khỏe lợn. Lợn con có khối lượng sơ sinh cao thường có hệ miễn dịch tốt hơn, giảm tỷ lệ mắc bệnh trong giai đoạn đầu đời. Điều này giúp giảm chi phí chăm sóc và điều trị, đồng thời nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lợn có khối lượng sơ sinh thấp dễ bị suy dinh dưỡng và có nguy cơ tử vong cao hơn trong giai đoạn cai sữa.

II. Probiotic và vai trò trong chăn nuôi lợn thịt

Probiotic là chế phẩm vi sinh có lợi, được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi nhằm cải thiện hệ tiêu hóa và tăng cường sức khỏe lợn. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng Probiotic Clostat HC Dry trong chăn nuôi lợn thịt lai Duroc x YL tại Thái Nguyên. Kết quả cho thấy việc bổ sung Probiotic giúp cải thiện đáng kể tăng trưởng trọng lượng và giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn. Điều này không chỉ nâng cao năng suất chăn nuôi mà còn giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh, góp phần phát triển chăn nuôi bền vững.

2.1. Tác dụng của Probiotic đến hệ tiêu hóa

Probiotic có tác dụng cân bằng hệ vi sinh đường ruột, giúp lợn hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn. Nghiên cứu chỉ ra rằng lợn được bổ sung Probiotic có tỷ lệ tiêu hóa protein và năng lượng cao hơn so với lợn không sử dụng. Điều này dẫn đến tăng trưởng trọng lượng nhanh hơn và giảm tiêu tốn thức ăn. Ngoài ra, Probiotic còn giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy, đặc biệt là trong giai đoạn cai sữa, khi hệ tiêu hóa của lợn còn non yếu.

2.2. Ảnh hưởng của Probiotic đến sức khỏe và năng suất

Việc sử dụng Probiotic không chỉ cải thiện hệ tiêu hóa mà còn tăng cường sức khỏe lợn thông qua việc kích thích hệ miễn dịch. Lợn được bổ sung Probiotic có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn, giảm chi phí điều trị và nâng cao năng suất chăn nuôi. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng Probiotic giúp giảm stress trong quá trình chăn nuôi, đặc biệt là trong điều kiện chuồng trại chật hẹp hoặc thay đổi khẩu phần ăn.

III. Hiệu quả chăn nuôi lợn thịt lai Duroc x YL tại Thái Nguyên

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả chăn nuôi lợn thịt lai Duroc x YL tại Thái Nguyên thông qua việc kết hợp cải thiện khối lượng sơ sinh và sử dụng Probiotic. Kết quả cho thấy lợn có khối lượng sơ sinh cao và được bổ sung Probiotic đạt khối lượng xuất chuồng lớn hơn, đồng thời giảm tiêu tốn thức ăn và chi phí chăn nuôi. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của việc áp dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến trong việc nâng cao năng suất chăn nuôi và phát triển bền vững ngành chăn nuôi lợn tại Thái Nguyên.

3.1. Tăng trưởng trọng lượng và tiêu tốn thức ăn

Nghiên cứu chỉ ra rằng lợn được bổ sung Probiotic và có khối lượng sơ sinh cao đạt tăng trưởng trọng lượng nhanh hơn, đồng thời giảm tiêu tốn thức ăn. Điều này giúp giảm chi phí chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế. Cụ thể, lợn được bổ sung Probiotictiêu tốn thức ăn thấp hơn 10-15% so với lợn không sử dụng, đồng thời đạt khối lượng xuất chuồng cao hơn 5-10%.

3.2. Ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị

Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn lớn trong việc áp dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến tại Thái Nguyên. Việc cải thiện khối lượng sơ sinh thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý cho lợn nái và sử dụng Probiotic trong thức ăn chăn nuôi là những giải pháp hiệu quả để nâng cao năng suất chăn nuôi và phát triển bền vững. Các khuyến nghị bao gồm tăng cường đào tạo kỹ thuật cho người chăn nuôi và nhân rộng mô hình sử dụng Probiotic trong chăn nuôi lợn thịt.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh và chế phẩm probiotic bổ sung vào thức ăn đến khối lượng cai sữa khối lượng xuất chuồng và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt lai ba máu duroc x yl nuôi tại thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm sinh trưởng của lợn Sinh trưởng là một quá trình sinh lý sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi phôi thai được hình thành đến khi thành thục về tính. Chambers (1990) [32] định nghĩa: Sinh trưởng là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt, da, xương.

Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tế bào của mô cơ, tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể. Theo Dương Mạnh Hùng (2007) [9] đã khái quát: Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước. “Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và sự phân chia của các tế bào trong cơ thể”. Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, vì thế người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng.

Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) [13], sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở di truyền của đời trước. Sự sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ tích lũy của các chất cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Mà sự hoạt động của các gen điều khiển này chịu ảnh hưởng của hệ thống tuyến nội tiết. Đặc biệt là hormon STH (Somato Tropin Hormon) của thùy trước tuyến yên, có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình sinh trưởng của sinh vật.

Trong suốt quá trình sinh trưởng, lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh. Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] cho biết: Sinh trưởng của lợn không đều qua các giai đoạn, sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm. So với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 4 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần. Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu lợn con thấp.

Do lợn sinh trưởng phát triển nhanh nên khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng rất mạnh. Lợn con ở 21 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9 - 14 g protein/1kg khối lượng cơ thể. Trong khi đó lợn trưởng thành tích luỹ được 0,3 - 0,4 kg protein. Hơn nữa để tăng 1 kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn thức ăn lớn.

Vì tăng khối lượng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg thịt mỡ. Từ những kết quả nghiên cứu trên cho thấy lợn là loài có khả năng sinh trưởng phát triển nhanh, tuy nhiên để khai thác hết tiềm năng sản xuất của chúng thì người chăn nuôi phải nắm vững đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hoá của lợn để có các biện pháp tác động kịp thời và có hiệu quả kinh tế cao. Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng Để đánh giá năng suất thịt lợn người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu tăng khối lượng ngày đêm và khối luợng đạt được lúc giết thịt, ngoài ra còn xem xét sinh trưởng tương đối, cụ thể: + Sinh trưởng tích lũy; + Sinh trưởng tuyệt đối; + Sinh trưởng tương đối. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng Như đã đề cập ở trên, tất cả các tính trạng về khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn được gọi chung là tính trạng sản xuất và chúng hầu hết là tính trạng số lượng và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền và ngoại cảnh.

* Các yếu tố di truyền: Các giống khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di truyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được thể hiện thông qua hệ số di truyền. Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh và sinh truởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05- 0,21, hệ số di truyền này thấp hơn so với hệ số di truyền của tính trạng này trong thời kỳ vỗ béo (từ 25 - 95 kg). Tăng khối luợng và tiêu tốn 5 thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch và khá chặt chẽ được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: - 0,51 đến - 0,56 và - 0,715 và công bố con lai (DLW) D có mức tiêu tốn thức ăn là 3,55 kg/kg tăng khối lượng, trong khi con lai LW chỉ tiêu này đạt 2,5 kg/kg tăng khối lượng. Tính trạng này được quan tâm chọn lọc và có xu hướng ngày càng giảm.

* Các yếu tố ngoại cảnh: Ngoài các yếu tố di truyền, các yếu tố môi trường, ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rất lớn đến các tính trạng sinh trưởng và cho thịt của lợn. • Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh/ổ Là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nói lên trình độ kỹ thuật chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn nái. Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng được cân sau khi lợn con đẻ ra cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu. Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn, khối lượng sơ sinh/ổ cao thì tốt, lợn sẽ tăng khối lượng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau (Nguyễn Thiện và cs, 1998 [23]).

Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau. Các giống lợn nội như Móng Cái: 0,5 - 0,7 kg/con, lợn Ỉ 0,45 kg/con. Lợn ngoại Yorshise nuôi tại Việt Nam 1,24 kg/con, lợn Duroc 1,2 - 1,5 kg/con (Trần Văn Phùng và cs, 2004 [16]). Ngoài ra, khối lượng sơ sinh có liên quan và tỷ lệ thuận với khối lượng của lợn nái.

Vì thế trong giai đoạn lợn nái chửa và nhất là thời gian 20 ngày trước khi đẻ cần chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái tốt, thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, vitamin, khoáng để cho thai phát triển tốt. Khi khối lượng con sơ sinh cao thì lợn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh, khối lượng con cai sữa sẽ cao và khối lượng xuất chuồng lớn. • Ảnh hưởng của khối lượng cai sữa/ổ Trong chăn nuôi lợn con từ khi sơ sinh đến khi cai sữa có một ý nghĩa rất quan trọng vì đó chính là cơ sở vật chất để phát triển đàn lợn nái sinh sản và nâng cao năng suất chăn nuôi. Khối lượng toàn ổ khi cai sữa ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng xuất chuồng.

Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng không giống nhau. Lợn móng cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là 6 58, 20 - 60,88 kg; lợn F1 (Đại bạch x Móng cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là 61,80 kg (Nguyễn Thiện và cs, 1998 [23]). Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp, sức khoẻ tốt hay xấu, sinh trưởng phát dục nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất đàn giống và khả năng nuôi thịt của lợn sau này. Nuôi dưỡng tốt lợn con còn là cơ sở thuận lợi cho công tác chọn giống, chọn phối, là cơ sở tốt để con vật có thể di truyền khả năng sinh sản cho đời sau.

Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ tới khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng. Vì vậy, để có khối lượng cai sữa/ổ cao ta phải chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn có chửa và lợn con bú sữa, đặc biệt là bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, giúp cho lợn con sinh trưởng phát triển mạnh, giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm giảm tỷ lệ lợn con mắc bệnh và chết xuống mức thấp nhất. • Ảnh hưởng của tính biệt: Lợn cái, lợn đực hay lợn đực thiến đều có tốc độ phát triển và cấu thành của cơ thể khác nhau. Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơn lợn cái và lợn đực thiến.

Một số công trình nghiên cứu khác lại cho rằng lợn đực thiến có mức độ tăng khối lượng cao hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn (Campell và cs, 1985 [31]). Tính biệt có ảnh hưởng rõ rệt đối với tăng khối lượng. • Ảnh hưởng của cơ sở chăn nuôi và chuồng trại: Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất. Cơ sở chăn nuôi biểu thị tổng hợp chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn.

Thông thường, lợn bị nuôi chật hẹp thì khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn được nuôi trong điều kiện chuồng trại riêng rẽ. Lợn nuôi đàn thì ăn nhanh hơn, lượng thức ăn trong một bữa được nhiều hơn nhưng số bữa ăn trong ngày lại giảm và lượng thức ăn thu nhận hàng ngày lại ít hơn so với lợn nuôi nhốt riêng từng ô chuồng. Các tác nhân stress có ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất và sức sản xuất của lợn, đó là: điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi, khẩu phần ăn không đảm bảo, chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc kém, vận chuyển, phân đàn, tiêm chủng, điều trị, thay đổi khẩu phần. • Ảnh hưởng của dinh dưỡng: Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố ngoại cảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn.

Mối quan hệ 7 giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng. Phương thức cho ăn và giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần ăn là chìa khóa ảnh hưởng lên tăng khối lượng (Nguyễn Nghi và cs, 1995 [14]). Đảm bảo cân đối dinh dưỡng thì con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó. Thức ăn và giá trị dinh dưỡng là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của con vật.

Ngoài ra, phương thức nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của con vật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh và probiotic đến hiệu quả chăn nuôi lợn thịt lai Duroc x YL tại Thái Nguyên là một nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực chăn nuôi, tập trung vào việc đánh giá tác động của khối lượng sơ sinh và việc bổ sung probiotic đến hiệu suất tăng trưởng và sức khỏe của lợn thịt lai Duroc x YL. Kết quả nghiên cứu cho thấy khối lượng sơ sinh cao kết hợp với probiotic giúp cải thiện đáng kể tốc độ tăng trưởng, giảm tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các hộ chăn nuôi và nhà nghiên cứu muốn tối ưu hóa quy trình chăn nuôi lợn thịt.

Để mở rộng kiến thức về các kỹ thuật chăn nuôi hiệu quả, bạn có thể tham khảo Luận văn áp dụng quy trình kĩ thuật trong chăn nuôi và phòng trị 1 số bệnh thường gặp ở lợn thịt tại trại phạm khắc bộ mỹ hào hưng yên. Nếu quan tâm đến các biện pháp phòng chẩn đoán và điều trị bệnh cho gia súc, Luận văn áp dụng biện pháp phòng chẩn đoán điều trị bệnh cho đàn gia súc gia cầm tại xã bình minh thanh oai hà nội là tài liệu phù hợp. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về phát triển chăn nuôi bền vững, bạn có thể khám phá Luận văn nghiên cứu phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện yên thế tỉnh bắc giang. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn sâu sắc và bổ ích, giúp bạn nâng cao hiểu biết trong lĩnh vực nông nghiệp và chăn nuôi.