MỞ ĐẦU Chƣơng 1 - TỔNG QUAN 1. Tổng quan về hoạt động khoáng sản 1. Hiện trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam 1. Phân loại tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam Những điều tra cơ bản và tìm kiếm khoáng sản của các nhà địa chất Việt Nam cùng với các kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp từ trƣớc cách mạng tháng Tám đến nay đã phát hiện Việt Nam có trên 5000 điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các khoáng sản năng lƣợng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng.
Đặc điểm chung của tài nguyên khoáng sản Việt Nam phần lớn là tụ khoáng có quy mô vừa và nhỏ, phân bố rải rác, các loại khoáng sản có quy mô công nghiệp không nhiều. Phần lớn các mỏ đều nằm ở vùng sâu vùng xa không thuận lợi về giao thông, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém, nên khả năng khai thác gặp nhiều khó khăn, hiệu quả kinh tế không cao. Có thể chia ra khoáng sản nƣớc ta thành 3 nhóm nhƣ sau: * Nhóm khoáng sản năng lượng Việt Nam có tiềm năng trung bình, nhƣng do đặc điểm đã khai thác trong nhiều năm qua nên có nguy cơ bị cạn kiệt trong thời gian tới. Theo tính toán trữ lƣợng dầu khí đã đƣợc thăm dò cho đến nay của Việt Nam chỉ đảm bảo khai thác trong vòng 30 năm nữa.
Tiềm năng than đƣợc dự báo rất lớn (bể than Đông Bắc, bể than Đồng bằng sông Hồng) nhƣng trữ lƣợng đã đƣợc thăm dò đến nay là rất nhỏ. Theo Báo cáo Nghiên cứu đánh giá thực trạng về quản lý và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam, trong tổng số khoảng 929 tỷ tấn trữ lƣợng than tin cậy của thế giới tính đến tháng 1 năm 2006, Việt Nam chỉ đƣợc gộp trong số các nƣớc còn lại của châu Á không nằm trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development) với tổng trữ lƣợng chung chỉ có 9,7 tỷ tấn. Trong đó, Than biến chất thấp (lignit - á bitum) ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu 1700m có tài nguyên trữ lƣợng đạt - 11 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 36,960 tỷ tấn. Nếu tính đến độ sâu 3.500m thì dự báo tổng tài nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn.
Than biến chất trung bình (bitum) đã đƣợc phát hiện ở Thái Nguyên, vùng sông Đà và vùng Nghệ Tĩnh với trữ lƣợng không lớn, chỉ đạt tổng tài nguyên gần 80 triệu tấn. Than biến chất cao (anthracit) phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn, trong đó bể than Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lƣợng đạt trên 3 tỷ tấn. * Nhóm khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp nhƣ apatit, phosphorit, baryt, than bùn, sét gốm sứ, magnesit, dolomit, kaolin, pyrophylit, quartzit, cát thuỷ tinh, thạch anh tinh thể…. Các khoáng chất công nghiệp ở Việt Nam đã đƣợc đánh giá và nhiều mỏ đã đƣợc khai thác phục vụ cho các ngành nông, công nghiệp.
Các mỏ lớn đáng chú ý là apatit, baryt và graphit. + Apatit phân bố dọc bờ phải sông Hồng, từ biên giới Việt Trung ở phía Bắc đến vùng Văn Bàn, Lào Cai dài trên 100km, rộng trung bình 1km, đƣợc đánh giá có tài nguyên đến độ sâu 100m là 2,5 tỷ tấn và trữ lƣợng đã đƣợc thăm dò đạt 900 triệu tấn. + Baryt phân bố chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam, thƣờng đi kèm với quặng Pb- Zn và đất hiếm. Tổng tài nguyên dự báo đạt 25 triệu tấn [19] (trong tụ khoáng Đông Pao, Lai Châu có 4 triệu tấn).
+ Graphit có ở Lào Cai, Yên Bái và Quảng Ngãi với tổng tài nguyên và trữ lƣợng đạt gần 20 triệu tấn. Việt Nam có nhiều mỏ vật liệu xây dựng nhƣ: sét gạch ngói, sét xi măng, puzzolan, cát sỏi, đá vôi, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá ong. phân bố ở nhiều khu vực trên cả nƣớc. * Nhóm các loại khoáng sản kim loại quý hiếm Nhóm kim loại quý hiếm mà thế giới đang rất cần nhƣ vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, thiếc… thì trữ lƣợng của Việt Nam lại ít và chỉ khai thác mấy chục năm nữa sẽ cạn kiệt.
Việt Nam chƣa phát hiện đƣợc kim cƣơng, các loại đá quý nhƣ ruby, saphia, peridot tuy có nhƣng chƣa rõ trữ lƣợng. Một số loại khoáng sản có trữ lƣợng - 12 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đáng kể nhƣ bôxít, đất hiếm, ilmenit… nhƣng chủ yếu vẫn đang ở dạng tiềm năng dự báo. Ngoài ra, thế giới cũng có rất nhiều các loại khoáng sản này và nhu cầu tiêu dùng trên thế giới đối với các loại khoáng sản này là không cao và hiện tại gần nhƣ bão hòa. + Tài nguyên bôxít đƣợc đánh giá khá dồi dào nhƣng chất lƣợng thấp và có nhiều thách thức, bất lợi lớn khi khai thác tài nguyên này nhƣ vốn đầu tƣ cao, nguồn nƣớc và đặc biệt là vấn đề môi trƣờng.
+ Quặng titan, theo báo cáo nghiên cứu đánh giá thực trạng về quản lý và sử dụng tài nguyên khoáng sản Việt Nam đƣợc biết Titan trong cồn cát đỏ ở tỉnh Bình Thuận dự báo khoảng 130 triệu tấn. Uớc tính trữ lƣợng titan trong cả nƣớc đạt mức 500 - 600 triệu tấn và có thể còn lớn hơn. Nhƣ vậy, tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đa dạng về chủng loại nhƣng tiềm năng hạn chế. Các loại khoáng sản có giá trị, đƣợc thị trƣờng thế giới ƣa chuộng thì Việt Nam không có nhiều (nhƣ vàng, bạc…) hoặc đã khai thác gần nhƣ cạn kiệt (nhƣ dầu mỏ, than).
Những loại khoáng sản chúng ta có nhiều (nhƣ bôxít, ilminite, đất hiếm…) một mặt chƣa đƣợc đánh giá một cách đầy đủ, mặt khác các loại khoáng sản này trên thế giới cũng có nhiều, nhu cầu tiêu thụ lại không cao, còn có thể sử dụng hàng trăm năm tới. Các hình thức khai thác, chế biến khoáng sản Có thể chia các hình thức khai thác, chế biến khoáng sản ra thành 3 nhóm: * Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp Việc khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp tập trung ở các tổ chức sau: Tổng công ty Khoáng sản khai thác và chế biến chì, kẽm, đồng, thiếc, ilmenit, chromit. Tổng công ty Thép khai thác các mỏ quặng sắt, các mỏ nguyên liệu phụ gia luyện kim, vật liệu chịu lửa. Tổng công ty Than khai thác vùng than Quảng Ninh và một số mỏ than rải rác ở các tỉnh khác.
Tổng công ty Hoá chất khai thác mỏ apatit Lào Cai, các mỏ pyrit, các mỏ nguyên liệu hoá chất. Tổng công ty Xi măng khai thác các mỏ đá vôi xi măng, sét xi măng và các mỏ nguyên liệu phụ gia xi măng. Tổng công ty Dầu - Khí khai thác các mỏ dầu, khí đốt thiên nhiên. - 13 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một số Công ty liên doanh có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài khai thác đồng, chì, kẽm, ilmenit, vàng, dầu-khí, đá vôi trắng, v.
Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp đang từng bƣớc đƣợc nâng cao về năng lực công nghệ, thiết bị, quản lý. Hoạt động sản xuất, kinh doanh nhìn chung đảm bảo theo nội dung phƣơng án, đề án, thiết kế, báo cáo đánh giá tác động môi trƣờng đã đƣợc phê duyệt; từng bƣớc gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng, an toàn lao động, bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Do khả năng đầu tƣ còn hạn chế nên các mỏ khai thác quy mô công nghiệp ở nƣớc ta hiện chƣa đồng đều về hiệu quả kinh tế, về việc chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản, pháp luật về bảo vệ môi trƣờng. * Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ, tận thu Khai thác tận thu là hình thức khai thác khoáng sản trong điều kiện việc đầu tƣ khai thác quy mô công nghiệp không có hiệu quả tại các khu vực có khoáng sản phân bố không tập trung, khu vực khai thác lại ở các mỏ đã quyết định đóng cửa; khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thƣờng không theo quy mô công nghiệp.
Hình thức khai thác này đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phƣơng trong cả nƣớc và tập trung chủ yếu vào các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng, ngoài ra nhiều tỉnh phía Bắc khai thác quặng sắt, antimon, thiếc, chì, kẽm, bôxít, quặng ilmenit dọc theo bờ biển để xuất khẩu. Mặc dầu đƣợc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác theo quy định, có đề án khai thác, chế biến, có bản đăng ký đạt tiêu chuẩn chất lƣợng môi trƣờng đƣợc phê duyệt, nhƣng do vốn đầu tƣ ít, khai thác bằng phƣơng pháp thủ công hoặc bán cơ giới là chính nên trong quá trình khai thác, chế biến đã ảnh hƣởng đến môi trƣờng, cảnh quan. * Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản Hoạt động khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản đang là một vấn đề thời sự, đòi hỏi các cơ quan quản lý, các cấp chính quyền phải quan tâm, xử lý. Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản kéo theo các hậu quả nghiêm trọng nhƣ - 14 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tàn phá môi trƣờng, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên, gây mất an toàn lao động, làm mất trật tự, an ninh, an toàn xã hội, v.
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản gây hậu quả lớn đến môi trƣờng chủ yếu là nạn khai thác vàng, sử dụng cyanur, hoá chất độc hại để thu hồi vàng đã diễn ra ở Quảng Nam, Lào Cai, Lâm Đồng, Đà Nẵng; khai thác chì, kẽm, thiếc ở các tỉnh miền núi phía Bắc; khai thác quặng ilmenit dọc bờ biển đã phá hoại các rừng cây chắn sóng, chắn gió, chắn cát ven biển; khai thác cát, sỏi lòng sông gây xói lở bờ, đê, kè, ảnh hƣởng các công trình giao thông, gây ô nhiễm nguồn nƣớc; khai thác đá vật liệu xây dựng phá hoại cảnh quan, môi trƣờng, gây ô nhiễm không khí. Khai thác khoáng sản và những vấn đề môi trường liên quan Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nƣớc, các hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nƣớc. Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam. Trong những năm qua, hoạt động khai khoáng sản đã đóng góp tới 5,6% GDP.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt đƣợc, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trƣờng.