Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Giống bản địa 1. Khái niệm Trải qua hàng nghìn năm, dưới sự tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo đã hình thành nên những giống vật nuôi mang bản sắc riêng của từng quốc gia, của từng vùng, từng miền.
Chúng có những đặc điểm quý, đó là khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô, khả năng thích nghi với điều kiện sống cao, khả năng chống chịu bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon,. Tuy nhiên, có những giống có năng suất rất cao nhưng khi gặp điều kiện khí hậu, dinh dưỡng khác so với nơi nó được sinh ra lại tỏ ra kém thích nghi, năng suất thấp hơn mức trung bình của giống và dễ bị nhiễm bệnh. Chính điều này đã giải thích quá trình hình thành các giống vật nuôi bản địa (Nguyễn Kim Đường, 1992; Lê Viết Ly và cs. Như vậy, giống vật nuôi nào gắn bó lâu đời và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái nông nghiệp cũng như tập quán sản xuất, bản sắc văn hóa của một vùng miền hay dân tộc nào đó thì trở thành giống vật nuôi bản địa của nơi đó.
Đặc điểm của giống bản địa Các giống bản địa không chỉ phản ánh khả năng di truyền của giống mà còn gián tiếp biểu hiện tập quán sản xuất của địa phương. Chúng có những ưu điểm sau: - Khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái môi trường khắc nghiệt. - Khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng và phù hợp với điều kiện chăm sóc của người dân địa phương. - Khả năng chống chịu bệnh tốt.
- Chi phí đầu tư thấp. - Chất lượng thịt ngon. Nếu xét về góc độ kinh tế, nhược điểm của các giống vật nuôi bản địa là tầm vóc nhỏ, năng suất thấp và khó thích nghi với điều kiện sinh thái mới. Tuy nhiên, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 4 trong điều kiện nóng ẩm và thức ăn nghèo dinh dưỡng thì đó lại là một sự thích nghi hợp lý.
Tầm vóc nhỏ bé của các giống nội địa là điều kiện dễ dàng cho người chăn nuôi chấp nhận việc tạp giao với giống ngoại để cải thiện chất lượng (Lê Viết Ly và cs. Sự đa dạng các giống lợn bản địa ở Việt Nam Theo thống kê, Việt Nam có tới 20 giống lợn bản địa như lợn Ỉ, lợn Móng Cái, lợn Thuộc nhiêu, lợn Hung (Hà Giang), lợn Vân Pa (Quảng Trị), lợn Mường Khương (Lào Cai), lợn Táp Ná (Cao Bằng), lợn Lửng (Phú Thọ), lợn đen Mường Lay (Điện Biên),… Các giống lợn bản địa chủ yếu được bà con các dân tộc miền núi khắp các vùng từ Móng Cái (Quảng Ninh) qua dãy Trường Sơn đến Bình Phước lưu giữ và chăn nuôi ở quy mô nhỏ với phương thức thả rông. Các giống lợn bản địa ở nước ta có sự phân bố đa dạng và những đặc điểm ngoại hình rất riêng, đặc trưng cho từng giống và từng vùng khác nhau (Trần Thanh Vân và cs., 2017) Lợn Móng Cái: Là giống lợn nội được hình thành và phát triển lâu đời ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Có thể xem các vùng Hà Cối (huyện Đầm Hà) và Tiên Yên (Đông Triều) của tỉnh Quảng Ninh là nguồn cội của giống lợn Móng Cái.
Lợn Móng Cái có một số đặc điểm như đầu đen, có điểm trắng giữa trán, lưng và mông có mảng đen kéo dài hình yên ngựa, đầu to, miệng nhỏ dài, tai nhỏ và nhọn, lưng võng, bụng hơi xệ. Ưu điểm của giống lợn này là sớm thành thục về tính dục, sinh sản tốt, nuôi con khéo (Trần Thanh Vân và cs., 2017) Lợn Ỉ: Có nguồn gốc ở miền Bắc Nam Định, hiện giống lợn này đang ở trong tình trạng nguy kịch và chỉ còn sót lại ở một số xã của tỉnh Thanh Hoá. Qua một thời gian dài, giống lợn Ỉ mỡ đã tạp giao với các nhóm giống lợn khác và trở thành giống lợn Ỉ ngày nay với hai loại hình chính là Ỉ mỡ và Ỉ pha. Chúng có một số đặc điểm ngoại hình chung như da đen, lông ngắn và thưa, đầu to, lưng thẳng, bụng xệ và chân thấp.
Lợn Ỉ có những đặc điểm di truyền quý giá như thành thục sớm, mắn đẻ, khéo nuôi con, khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô xanh, khả năng chống chịu bệnh tốt (Trần Thanh Vân và cs., 2017) (Vũ Ngọc Sơn và cs., 2010) Lợn Mường Khương: Là giống lợn địa phương có từ lâu đời, gắn liền với đời sống người H’Mông và được nuôi nhiều nhất ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 5 Lợn có màu lông đen tuyền hoặc đen có đốm trắng ở đầu đuôi và ở chân, lông thưa và mềm. Đa số lợn có tầm vóc to cao, bốn chân khỏe, lưng ít võng, mõm thẳng và dài. Ở các lứa tuổi khác nhau, tỉ lệ thịt và mỡ của lợn cũng khác nhau.
Đặc điểm nổi bật của giống lợn này là có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện chăn thả ở các vùng núi cao. Có thể sử dụng các ưu điểm này để lai tạo nhằm nâng cao tầm vóc của lợn địa phương có khối lượng nhỏ (Trần Thanh Vân và cs., 2017) Lợn đen Lũng Pù (Lợn Mèo Vạc, Hà Giang): Là giống lợn quý của người Mông, có tầm vóc to lớn. Chúng có lông đen, dày và ngắn, da thô, tai nhỏ cụp xuống, mõm dài trung bình. Giống lợn này, mang những đặc điểm quý như khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng núi cao, dễ nuôi, phàm ăn, sức đề kháng cao, tính chống chịu bệnh tốt.
So sánh với các giống lợn Việt Nam, lợn đen Lũng Pù có tốc độ tăng khối lượng khá cao, thịt thơm ngon, tuy nhiên mỡ hơi nhiều (Vũ Ngọc Sơn và cs., 2010) Lợn đen Mường Lay (Điện Biên): Đây là giống lợn đen phàm ăn, phát triển mạnh, thích nghi tốt với điều kiện khắc nghiệt, khả năng chống chịu bệnh cao. Lợn đen Mường Lay có khả năng sinh sản tốt, mỗi lứa đẻ trung bình 12 - 15 con, thậm chí tới 20 con/lứa. Nuôi lợn đen Mường Lay ít tốn thức ăn nhưng chúng vẫn lớn đều, thịt săn chắc, thơm và ngọt. Do đó, thịt của chúng được coi là thực phẩm sạch và được nhiều người ưa chuộng (Trần Thanh Vân và cs., 2017) Lợn Lửng: Là giống lợn của một số thôn bản của các xã vùng sâu, vùng xa.
Chúng có một số đặc điểm như tầm vóc nhỏ, toàn thân đen tuyền, trán nhô, mặt phẳng, mõm dài, tai chuột, chân nhỏ. Thịt lợn Lửng thơm và ngon như thịt lợn rừng (Trần Thanh Vân và cs., 2017) Lợn Lang Hồng: Được nuôi nhiều ở vùng đồng bằng và thung lũng hạ lưu sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam. Lợn Lang Hồng có ngoại hình tương đối giống lợn Móng Cái. Giống lợn này vốn là loại lợn hướng mỡ nên càng béo càng di chuyển khó khăn, chân đi cả bàn, vú quét đất.
Đây là giống lợn thành thục về tính sớm, chịu đựng kham khổ và có khả năng sinh sản tốt (Trần Thanh Vân và cs., 2017) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 6 Lợn Mẹo (Lợn Mèo Nghệ An): Lợn Mẹo được nuôi trong điều kiện thả rông quanh năm, ít được sự chăm sóc của con người, chủ yếu ở vùng núi tỉnh Nghệ An, tập trung nhiều ở hai huyện Kỳ Sơn và Tương Dương. Sau các cuộc điều tra giống những năm 60 lợn Mẹo được nuôi phổ biến dần xuống các huyện đồng bằng Nghệ An (Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn) và con đực được lai với các giống địa phương để nuôi kinh tế. Tầm vóc to, thể hình cứng cáp, bốn chân đứng thẳng, khả năng chống chịu bệnh tốt - đó là những đặc điểm nổi bật của giống lợn này. Đây là những đặc điểm rất hiếm thấy ở các giống lợn bản địa của nước ta (Trần Thanh Vân và cs., 2017) Lợn Cỏ: Đây là giống lợn đặc trưng của một số vùng đất nghèo ở miền Trung, chủ yếu ở các tỉnh khu Bốn cũ.
Trước những năm 60, giống lợn này thấy nhiều ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, khu vực Bình Trị Thiên. Do lợi ích kinh tế thấp và nhất là sau khi có chủ trương nhân rộng giống lợn Móng Cái ra các tỉnh miền Trung thì đàn lợn này bị thu hẹp nhanh và gần như tuyệt chủng. Lợn Cỏ có tầm vóc nhỏ, nhỏ hơn so với các giống lợn nội như lợn Móng Cái, lợn Ỉ. Đại đa số là lợn lang trắng đen, mõm dài, xương nhỏ, bụng xệ.
Đây là loại lợn mini. Có lúc người chăn nuôi định giữ lại để tạo lợn địa phương mini do có chất lượng thịt thơm ngon. Tuy nhiên, do giá trị kinh tế thấp nên con người đã bỏ giống lợn này trước khi có dự định bảo tồn chúng (Nguyễn Đức Hưng, Lê Viết Vũ, 2011) Lợn Sóc: Là giống lợn thuần rất lâu đời và duy nhất được dân địa phương nuôi, gắn bó với đời sống kinh tế và văn hoá của đồng bào Tây Nguyên. Hình dáng lợn Sóc rất gần với lợn rừng, tầm vóc nhỏ, mõm dài, hơi nhọn và chắc, thích hợp với đào bới kiếm thức ăn.
Da thường dày, lông đen, dài, có bờm dài và dựng đứng. Chân nhỏ nhưng rất nhanh nhẹn. Ưu điểm của lợn Sóc là có khả năng tự kiếm thức ăn trên các loại địa hình khác nhau, khả năng làm tổ, đẻ con và nuôi con nơi hoang dã không cần sự can thiệp của con người. Thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên ở Cao Nguyên với độ cao > 500m so với mặt biển, khả năng chống chịu bệnh tật cao, nhanh nhẹn, sống thả rông, ít phụ thuộc vào sự cung cấp, nuôi dưỡng chăm sóc của con người (Nguyễn Đức Hưng, Lê Viết Vũ, 2011) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 7 Lợn Thuộc Nhiêu: Lợn Thuộc Nhiêu là giống lợn lai giữa lợn ngoại với lợn nội được hình thành từ hằng trăm năm trước đây và được phát triển trong sản xuất ở nhiều vùng.
Hiện giống lợn này được phát triển rộng rãi các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Long An, Đồng Nai, Bình Thuận, Cần Thơ, Sóc Trăng,. Đa số lợn có tầm vóc khá, có thể chất thanh sổi, thân hình vuông, thấp, lưng hơi oằn, mông vai nở, chân thấp, yếu, đi ngón, móng xoè, đuôi ngắn. Với việc gia tăng máu ngoại thông qua lai với lợn Yorkshire đực, lợn Thuộc Nhiêu ngày càng có ngoại hình và đặc điểm của lợn Yorkshire.