Đặt vấn đề Nấm ăn và nấm dược liệu là một sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế và khoa học đời sống, nấm không chỉ là một loại thức ăn ngon mà còn chứa những giá trị dinh dưỡng rất tốt đối với sức khỏe con người. Với những thuận lợi từ khí hậu nhiệt đới ẩm gió; nguồn lao động lớn kết hợp với nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào như rơm, bông, mùn cưa, bã mía. là điều kiện thích hợp để nuôi trồng nấm. Quả thể của nấm sau khi thu hoạch có thể sử dụng trực tiếp hoặc qua chế biến thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
Ngoài ra, giá thể sau thu hoạch nấm có thể sử dụng làm phân bón cho cây trồng, góp phần cải tạo đất, góp phần bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nấm linh chi (Ganoderma lucidum) là một loại dược liệu quý, chúng chứa gần 400 thành phần hoạt chất với các dược tính khác nhau (Polysacarit, steroid và triterpenes là các nhóm chính theo sau là alkaloid, axit béo, glycoprotein, các chất vô cơ, lignin, nucleoside, nucleotide, peptide, phenol, protein, sterol và vitamin được tìm thấy trong G. lucidum (Boh và cs. 2007) có tác dụng giảm huyết áp, cholesterol, tăng cường hệ thống miễn dịch, điều trị ung thư, giúp an thần, chống suy nhược thần kinh kéo dài, đặc tính kháng virus và kháng viêm, điều trị sốc phản vệ, chống HIV, chống oxy hóa làm tăng tuổi thọ.
Qua những khảo sát dược lí và lâm sàng cho thấy nấm linh chi không xuất hiện các tác dụng phụ khi dùng trong thời gian dài và không tương kị với những loài dược liệu và thuốc tân dược khác. Việt Nam là một nước nhiệt đới với điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển của rất nhiều loại nấm, tuy nhiên hiện nay nguồn giống nấm của Việt Nam còn nhiều hạn chế, chưa phát triển được nhiều giống mới phục vụ cho sản xuất. Chủng nấm QN04 là chủng nấm mới được phân lập từ tự nhiên, có hình 1 thái quả thể đẹp, có tiềm năng trở thành chủng nấm tốt phục vụ sản xuất. Vì vậy, để làm phong phú thêm nguồn giống phục vụ cho nuôi trồng, cũng như với mong muốn phát triển thêm một chủng nấm linh chi mới trong sản xuất, chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy đến sinh trưởng của chủng nấm linh chi QN04 thu thập tại tỉnh Quảng Nam”.
Mục đích Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của chủng nấm linh chi QN04. Yêu cầu - Xác định được mức pH thích hợp cho sinh trưởng của chủng nấm linh chi QN04 trong môi trường nhân giống nấm cấp 1. - Xác định được mức nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của chủng nấm linh chi QN04 trong môi trường nhân giống nấm cấp 1. - Xác định được công thức dinh dưỡng thích hợp cho sinh trưởng của chủng nấm linh chi QN04 trong môi trường nhân giống nấm cấp 1.
- Xác định được môi trường thích hợp cho sinh trưởng của chủng nấm linh chi QN04 trong môi trường nhân giống nấm cấp 2. - Xác định được công thức phối trộn cơ chất thích hợp cho sinh trưởng của chủng nấm linh chi QN04 trong điều kiện nuôi trồng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm trong và ngoài nước 2.
Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm trên thế giới Ngành sản xuất nấm đã hình thành và phát triển trên thế giới hàng trăm năm. Ngày nay đã phát hiện trên 2000 loài nấm, trong đó có khoảng 80 loài ăn đƣợc và nuôi trồng thành công như nấm mỡ, nấm sò, nấm rơm, nấm hương, nấm kim châm, …và nấm được sử dụng trong lĩnh vực dược liệu như linh chi, vân chi, đầu khỉ, … Có trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ sản xuất nấm, sản lượng nấm trên thế giới đạt 25 triệu tấn/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7%- 10%/năm. Các nước sản xuất nấm hàng đầu thế giới là Trung Quốc: 2.000 tấn (trong đó Đài Loan chiếm 71.800 tấn), chiếm 53,79 % tổng sản lượng nấm thế giới, Hoa Kỳ: 393.400 tấn (7,61%), Nhật Bản: 360.800 tấn, Hàn Quốc: 92.000 tấn, Hà Lan: 88. Hiện nay trên thế giới có khoảng 80 nước nuôi trồng các loài nấm mỡ, nấm hương, nấm sò, nấm mộc nhĩ.trong đó có các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kì, Đức, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc.Nấm không chỉ là sản phẩm của các nước công nghiệp mà trồng nấm còn là một ngành công nghiệp lớn được cơ giới hóa toàn bộ từ khâu xử lí nguyên liệu đến chăm sóc nên sản lượng rất cao.
Trung Quốc là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới. Năm 1995, sản lượng là 3 triệu tấn, chiếm 60% tổng sản lượng thế giới, riêng tỉnh Phúc Kiến 0,8 triệu tấn, chiếm 26,7% cả nước, 6,4% toàn thế giới. Năm 2008 Trung Quốc đã sản xuất được 18 triệu tấn nấm tươi các loại. Năm 2009 riêng tỉnh Phúc Kiến sản xuất gần 2 triệu tấn đạt giá trị trên 8,6 tỷ Nhân dân tệ thu hút trên 3 triệu lao động trồng nấm chuyên nghiệp.
Năm 2010 Trung Quốc sản xuất được 20,2 triệu 3 tấn, tương đương mức giá trị khoảng 300 tỉ NDT (Tổng cục thống kê Trung Quốc, 2011). Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp nhất trong 20 năm gần đây. Sản xuất nấm đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng, hạn chế việc đốt rơm rạ, đốt phá rừng, tạo ra nguồn phân bón hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần tích cực vào chu trình chuyển hóa vật chất. Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm ở Việt Nam Việt Nam là nước có tiềm năng lớn để sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu do nguồn nguyên liệu trồng nấm (rơm rạ, mùn cưa, bã mía,.
Nguồn lao động nông thôn dồi dào. Điều kiện thời tiết thuận lợi cho nhiều loại nấm sinh trưởng và phát triển. Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và quốc tế tăng nhanh tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành trồng nấm tại nước ta. Hiện nay, các nhà khoa học đã xác định có khoảng 1800 loài nấm lớn, trong đó có gần 200 loài nấm ăn và nấm dược liệu ở Việt Nam (Trịnh Tam Kiệt, 2012).
Tuy nhiên, những nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, sinh lý, sinh hóa và quy trình công nghệ nuôi trồng nấm để phục vụ việc chọn tạo các loại giống nấm ở Việt Nam chưa được tiến hành đồng bộ. Việt Nam là nước có những thuận lợi để phát triển ngành sản xuất nấm. Nước ta đang nuôi trồng và phát triển khoảng 16 loại nấm được nuôi trồng trải dài từ Bắc vào Nam. Nước ta sản xuất khoảng 16 loại nấm, các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, nấm mộc nhĩ; các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng nấm hương, nấm sò, nấm linh chi.
Sản lượng nấm hàng năm nước ta khoảng 250.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 25 - 30 triệu USD (không tính xuất khẩu tiểu ngạch), trong đó: nấm mộc nhĩ 120.000 tấn, nấm mỡ 5.000 tấn, nấm linh chi 300 tấn, các loại nấm khác như nấm vân chi, nấm đầu khỉ, nấm kim châm, nấm ngọc châm khoảng 700 tấn (Nguyễn Như Hiến & Phạm Văn Dư, 2013). 4 Các vùng sản xuất nấm: + Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ, Đồng Nai.) chiếm 90% sản lượng cả nước. + Nấm mộc nhĩ được trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam bộ (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước.), chiếm khoảng 70% sản lượng cả nước. + Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, sản lượng khoảng 3.
+ Nấm dược liệu (linh chi, vân chi, đầu khỉ.) mới được phát triển, trồng ở một số tỉnh/thành phố (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Đồng Nai, .), sản lượng khoảng 300 tấn/năm. Một số hợp tác xã quy mô có thể kể đến như hợp tác xã nấm Nghĩa Minh (Xã Đan Phượng - Huyện Đan Phượng - TP Hà Nội), hợp tác xã nấm ăn và nấm dược liệu (Hội cựu chiến binh xã Long Hưng, Văn Giang, Hưng Yên). Một số doanh nghiệp sản xuất nấm trên quy mô lớn như: Công ty KINOKO Thanh Cao - Hà Nội (sản lượng 3 tấn/ngày), v.
Trải qua nhiều năm phát triển, đến nay ở một số địa phương nghề trồng nấm đã đem lại công ăn việc làm, tận dụng được thời gian nông nhàn và đem lại nguồn thu đáng kể cho nông dân. Tuy nhiên, việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ nấm chủ yếu phát triển ở quy mô nhỏ, phân tán, sản phẩm tiêu thụ trên thị trường nội địa là chính, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển và giá trị vốn có của nấm ăn, nấm dược liệu tại Việt Nam. Giới thiệu chung về nấm linh chi Theo Wasser (2010), trước đây nấm linh chi chỉ có trong tự nhiên với số lượng rất ít nên có giá rất đắt. Từ đầu những năm 1970, các nhà khoa học đã thành công trong việc trồng nhân tạo nấm linh chi, từ đó kỹ thuật này liên tục được cải tiến và đạt đến quy mô công nghiệp.
Từ năm 1980, việc sản xuất nấm linh chi phát triển nhanh chóng, đặc biệt là ở Trung Quốc. Loại thảo dược quý 5 này có thể được trồng nhân tạo trên thân gỗ, trên môi trường chứa phụ phẩm lâm nghiệp, hoặc nuôi cấy chìm thu nhận sinh khối. Bên cạnh môi trường truyền thống là mùn cưa, linh chi còn có thể được trồng trên rơm rạ, bã mía,. Trong sách “Bản thảo cương mục”, tác giả Lý Thời Trân đã mô tả 6 loại linh chi: thanh chi (màu xanh), xích chi ( màu hồng), hoàng chi (màu vàng), hắc chi (màu đen), bạch chi (màu trắng), tử chi (màu tím).
Tất cả các loài linh chi đều có tính bình, không độc, có tác dụng làm tăng trí nhớ, dưỡng tim, bổ gan khí, an thần, chữa trị tức ngực (Đinh Xuân Linh và cs, 2012). Phân loại học của nấm linh chi Nấm Linh chi có tên khoa học là: Ganoderma lucidum (Leyss. Tên tiếng Anh: Ling zhi, Reishi. Tên khác: Xích chi, đan chi, tiên thảo, nấm trường thọ, vạn niên nhung… Theo tác giả Trịnh Tam Kiệt (2012), nấm linh chi thuộc: Giới : Fungi Ngành : Nấm đảm (Basidiomycota) Lớp : Agaricomycetes Bộ : Polyporales Họ : Ganodermataceae Chi : Ganoderma Loài : Ganoderma lucidum 2.
Phân bố Nấm linh chi phân bố rộng rãi ở vùng rừng rậm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ. Được khai thác lâu đời nhất ở Trung quốc, Việt Nam và Ấn Độ. Hiện được trồng theo công nghệ thâm canh ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và bắt đầu trồng ở một số nước Đông Nam Á và Nam Mỹ.