Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Trình bày khái quát lý do nghiên cứu, sau đó sẽ xác định mục tiêu, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu để thực hiện luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Phần này, tác giả trình bày các khái niệm cơ bản liên quan đến văn hóa doanh nghiệp, sự gắn bó của nhân viên với tổ chức và mối liên hệ giữa chúng.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương ba, tác giả đề cập đến cách thức, phương pháp thực hiện nghiên cứu, điều chỉnh thang đo, cách thức xây dựng mẫu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Ở chương này tác giả trình bày thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định thang đo, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các kết quả. Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị. Phần này tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao mức độ gắn bó của nhân viên với tổ chức. Đồng thời, tác giả nêu lên những hạn chế của nghiên 5 cứu và đề nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn, liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người và do vậy có rất nhiều cách hiểu. Để diễn tả nền văn hóa của chính mình không phải là một việc dễ dàng.
Nó giống như việc hỏi một con cá dưới nước mày bơi như thế nào dưới nước. Khi bị trôi dạt trên bờ, con cá đó nhanh chóng nhận ra sự khác biệt đó, nhưng nó không thể (hoặc không có ý định) mô tả được điều đó. Mục đích trước mắt của nó là trở lại ngay xuống mặt nước (Schneider & Barsoux, 2003). Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Kroeber và Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới, đến nay con số định nghĩa này vẫn đang tiếp tục tăng lên (Kroeber và Kluckhohn, 1952). Theo nhà triết học cổ đại Heriot cho rằng “Cái gì còn lại khi tất cả những thứ khác bị quên đi - Cái đó chính là văn hoá” (Gold Hammer, 2009). Hay theo Tylor (1871), tác giả cuốn sách văn hóa nguyên thủy đã định nghĩa văn hóa là “Một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được”. Văn hóa gắn liền với sự ra đời của nhân loại.
Phạm trù văn hóa rất đa dạng và phức tạp. Nó là một khái niệm có rất nhiều nghĩa được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm khác nhau về đối tượng, tính chất và hình thức biểu hiện. Theo UNESCO: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, xã hội, quốc gia, …Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương và cả những lối sống, những quyền cơ bản của con 7 người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…” Theo Hồ Chí Minh: “Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn.Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả.” Theo Drennan (1992): “Văn hóa là cách giải quyết công việc tại một nơi nào đó.” Theo Schein (1992): “Văn hóa là những chuẩn mực cơ bản mà khi thực hiện tốt thì được xem là hợp lý và nó định hướng cho các thành viên mới một cách đúng đắn để nhận thức, suy nghĩ và cảm nhận trong mối quan hệ với mọi vấn đề.” Theo Williams (1993): “Văn hóa là những tín ngưỡng, quan điểm, và giá trị đã trở nên thông dụng và khá bền vững đã tồn tại trong tổ chức”. Như vậy, ta có thể rút ra kết luận: văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra.
Ngoài ra, theo cách định nghĩa như vậy, không chỉ các dân tộc, các quốc gia mới có văn hóa mà mỗi tổ chức, cá nhân và mỗi doanh nghiệp đều có văn hóa của riêng mình, không kể đó là văn hóa mạnh hay yếu, văn minh hay lạc hậu. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Vào đầu những năm 70, sau sự thành công rực rỡ của các doanh nghiệp Nhật Bản, các doanh nghiệp Mỹ bắt đầu chú ý tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những thành công đó. Các chuyên gia nghiên cứu đã khám phá ra văn hóa doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thành công của doanh nghiệp Nhật Bản trên khắp thế giới. Vậy văn hóa doanh nghiệp được hiểu như thế nào? “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với mọi tổ chức đã biết.” (Tổ chức lao động quốc tế - ILO) “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề môi trường xung quanh”.
Do đó, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và hệ thống 8 nghiên cứu logic về văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau và cách phân loại về các loại hình về văn hóa doanh nghiệp. Theo Deal và Kennedy (1982) đã khái quát văn hóa doanh nghiệp dựa trên hai tiêu chí: Mức độ rủi ro gắn với hoạt động của doanh nghiệp, tốc độ doanh nghiệp và nhân viên nhận được phản ứng về các chiến lược, quyết định của họ, có bốn loại: Văn hóa nam nhi (tough - guy culture), văn hóa làm ra làm/chơi ra chơi (worh hard/play hard culture), văn hóa phó thác (bet your company culture), văn hóa quy trình (process culture). Theo Quinn và McGrath (1985) tiến hành phân loại văn hóa doanh nghiệp dựa vào đặc trưng của quá trình trao đổi thông tin trong tổ chức: Văn hóa thị trường (market culture), văn hóa đặc thù (adhocracy culture), văn hóa phường hội (clan culture), văn hóa thứ bậc (hierarchical culture).
Quan điểm của nhà lý thuyết quản trị danh tiếng Robbins, văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa là một hệ thống qui luật chung được các thành viên chấp nhận và hành xử để tạo nên sự khác biệt trong nhận biết giữa các doanh nghiệp với nhau. 9 Theo Eldrige và Crombie (1974) cho rằng nói đến văn hoá của một công ty là nói đến một hình thể duy nhất với các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử được thể hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc. Nét đặc biệt của một tổ chức cụ thể nào đó được thể hiện ở lịch sử của nó với những ảnh hưởng của hệ thống cũ, lãnh đạo cũ trong việc xây dựng con người. Điều này được chứng tỏ ở sự khác nhau giữa việc đi theo thói quen và luật lệ, hệ tư tưởng cũ và mới, cũng như những sự lựa chọn chiến lược của toàn tổ chức.
Nghiên cứu của Tunstall (1983) cho thấy VHDN có thể được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách kinh doanh riêng của từng doanh nghiệp. Những mặt trên sẽ quy định mô hình hoạt động riêng của công ty và cách ứng xử của các thành viên trong tổ chức. Tác giả Luthans (1992) định nghĩa rằng: Văn hóa Công ty bao gồm các chuẩn mực đạo đức, hệ thống giá trị, niềm tin và bầu không khí tại môi trường làm việc của tổ chức. Theo quan điểm Schein (1992) văn hóa là một hình thức của các giả thiết cơ bản được phát minh, khám phá, phát triển bởi một nhóm khi họ học cách đối phó với các vấn đề liên quan đến việc thích nghi với bên ngoài và hội nhập với bên trong đã phát huy tác dụng và được coi như có hiệu lực và do đó được truyền đạt cho các thành viên mới noi theo.
Saeed và Hassan (2000) đã cho rằng văn hóa tổ chức được thừa nhận như là một quan niệm có sức thuyết phục và miêu tả nhiều khía cạnh của một môi trường làm việc. Nghiên cứu của Denison, Haaland and Goelzer (2004) tập trung vào các công ty có văn hóa doanh nghiệp tốt khẳng định những đặc tính chính của văn hóa tốt bao gồm sự trao quyền, tập trung vào tập thể, đội nhóm, có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng và có tầm nhìn mục tiêu thông suốt. Còn theo Edgar Schein (2010) chuyên gia nghiên cứu các tổ chức thì “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”. 10 Tóm lại văn hóa doanh nghiệp là một mệnh đề khó nắm bắt, vô hình, mang tính tiềm ẩn và tự nhiên.
Có thể nói rằng văn hóa doanh nghiệp đầy tính miêu tả nên rất khó để có thể cân đo đong đếm một cách rõ ràng. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể vẽ nên một bức tranh tổng thể về văn hóa doanh nghiệp dựa trên những giá trị cốt lõi, chức năng, rào cản và vai trò của văn hóa doanh nghiệp trong việc xây dựng doanh nghiệp phát triển bền vững về kinh doanh và nền tảng nhân sự.