CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan 1. Khái niệm tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp, là một trong những công cụ cơ bản của Nhà nước trong quản lý và điều hành vĩ mô, vì vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về tỷ giá hối đoái như: Theo giáo trình Tài chính quốc tế, Học viện tài chính- năm 2012: “Thực chất tỷ giá hối đoái ở Việt Nam là tương quan sức mua giữa các đồng tiền và là mức giá mà tại đó các đồng tiền có thể chuyển đổi được cho nhau.” Theo Lê Quốc Lý (2013), Quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam, NXB thống kê : “ Tỷ giá hối đoái là giá cả của đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.” Các khái niệm trên đều phản ánh một số khía cạnh khác nhau của tỷ giá hối đoái. Vậy, chúng ta có thể khái niệm một cách tổng quát về tỷ giá hối đoái thông qua thống nhất các nội dung trên như sau: Tỷ giá hối đoái là giá cả của đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác.
Về bản chất thì tỷ giá hối đoái là một giá cả của tiền tệ. Theo pháp lệnh về ngoại hối của Việt Nam được quốc hội ban hành thì tỷ giá hối đoái được định nghĩa như sau: Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam. Trên thực tế có 2 cách niêm yết tỷ giá : Tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ tính theo đồng ngoại tệ ký hiệu là e Tỷ giá hối đoái của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ ký hiệu là E Hai cách này về bản chât đều giống nhau. Chỉ khác nhau ở đồng tiền được sử dụng để niêm yết và định giá.
Trong bài khóa luận này em sẽ sử dụng tỷ giá của đồng ngoại tệ tính theo nội tệ (E) để phù hợp với thực tiễn niêm yết tỷ giá ở Việt Nam.Khái niệm về hoạt động xuất khẩu Xuất khẩu là việc quốc giá này bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ cho quốc gia khác. Nói cách khác đây là việc nhà sản xuất trong nước cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho khách hàng nước ngoài. Đơn vị tiền tệ thường dùng để giao dịch cho các hoạt động xuất khẩu thường là các đồng tiền mạnh như USD , EURO, Yên Nhật… tùy vào đối tác và sức mạnh cạnh tranh của quốc gia đó. Khi thống kê về xuất khẩu thường là đơn vị tiền tệ Dolar, triệu 6 Dolar và tỷ Dolar, và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định.
Đôi khi, nếu chỉ xét tới một mặt hàng cụ thể, đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng (cái, tấn…). Hoạt động xuất khẩu là một trong những hoạt động cơ bản của ngoại thương. Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hoá nhưng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh và đước biểu hiện dưới nhiều hình thức.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng. Một số lý thuyết về tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp 1. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái 1.
Các hệ thống tỷ giá hối đoái Hệ thống tỷ giá cố định Tỷ giá hối đoái cố định, đôi khi còn được gọi là tỷ giá hối đoái neo, là một kiểu chế độ tỷ giá hối đoái trong đó giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳng hạn. Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tăng hoặc giảm. Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định. Trong xu hướng mở cửa và hội nhập kinh tế, việc theo đuổi chế độ tỷ giá cố định có thể dẫn đến một số vấn đề sau: Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn thế giới, nước đó sẽ mất dần khả năng cạnh tranh trên các thị trường quốc tế, gây tổn thất cho cán cân thanh toán quốc tế và ảnh hưởng xấu đến sản xuất trong nước.
Để đảm bảo tỷ giá hối đoái cố định, chính phủ thường phải sử dụng các công cụ hạn chế nhập khẩu như thuế quan, hạn ngạch,. và hạn chế luồng vốn luân chuyển quốc tế nhằm kiềm chế thâm hụt cán cân thanh toán. Điều này mâu thuẫn với yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định không cho phép sử dụng chính sách tiền tệ vào các mục tiêu như ổn định giá cả hoặc tạo thêm công ăn việc làm, mà chỉ sử dụng vào một mục tiêu duy nhất là duy trì giá cả cố định ở mức đã công bố.
7 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi (linh hoạt) Tỷ giá hối đoái thả nổi được xác định hoàn toàn bởi các lực lượng cung và cầu của thị trường, không có sự can thiệp nào của Chính phủ. Về mặt lý thuyết, các tỷ giá cần điều chỉnh một cách tự động theo những thay đổi trong lạm phát, trong cán cân thương mại và các luồng vốn và duy trì “sự ngang bằng của sức mua”sao cho có thể mua được một lượng hàng nhất định từ cùng một lượng tiền của một trong hai nước. Ưu điểm của chế độ tỷ giá thả nổi: + Giúp cán cân thanh toán cân bằng: Giả sử một nước nào đó có cán cân vãng lai thâm hụt khiến nội tệ giảm giá. Điều đó thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu cho đến khi cán cân thanh toán trở nên cân bằng.
+ Đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ. + Góp phần ổn định kinh tế, tránh được những cú sốc bất lợi từ bên ngoài, vì khi giá cả nước ngoài tăng sẽ làm cho tỷ giá tự điều chỉnh để ngăn ngừa các tác động ngoại lai. Nhược điểm: + Là nguyên nhân gây nên sự bất ổn do các hoạt động đầu cơ làm méo mó, sai lệch thị trường, có khả năng gây nên lạm phát cao và tăng nợ nước ngoài. + Hạn chế các hoạt động đầu tư và tín dụng do tâm lý lo sợ sự biến động theo hướng bất lợi của tỷ giá.
Hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý Một hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý (hay không thuần nhất) là một hệ thống trong đó tỷ giá hối đoái được phép thay đổi phù hợp với điều kiện thị trường, nhưng đôi khi Chính phủ can thiệp vào để ngăn ngừa không cho nó vận động ra ngoài các giới hạn nhất định. Không để cho tỷ giá hoàn toàn thả nổi theo các lực lượng cung và cầu như trong hệ thống tỷ giá thả nổi, các ngân hàng trung ương đều có những can thiệp nhất định vào thị trường ngoại hối. Mục đích của sự can thiệp của ngân hàng trung ương trong hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý là hạn chế hoặc thu hẹp biên độ giao động của tỷ giá hối đoái. Như vậy, hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý là sự kết hợp hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi với sự can thiệp của ngân hàng trung ương.
Sử dụng hệ thống này có thể phát huy được những điểm mạnh và hạn chế được những yếu điểm của hai hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi và cố định. Phân loại tỷ giá hối đoái Có nhiều cách phân loại tỷ giá khác nhau tùy theo cách sử dụng: 8 Tỷ giá hối đoái chính thức và tỷ giá hối đoái song song Tỷ giá chính thức là tỷ giá do Ngân hàng trung ương của nước đó xác định. Trên cơ sở của tỷ giá này các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay, có kỳ hạn, hoán đổi. Tỷ giá hối đoái khi đổi tại ngân hàng thương mại và quầy giao dịch ngoại hối phục vụ khách hàng lẻ thường chênh lệch so với tỷ giá công bố có thể vì một trong hai lý do sau: (1) đã được tính gộp cả phí dịch vụ; (2) có hai tỷ giá đồng thời, một tỷ giá hối đoái chính thức (có thể do cơ quan hữu trách quy định, hoặc do cả thị trường lẫn cơ quan hữu trách quy đinh) và một tỷ giá không chính thức (còn gọi là tỷ giá hối đoái song song hay tỷ giá chợ đen) do thị trường quyết định.
Ở Việt Nam, ngay cả tỷ giá hối đoái chính thức cũng có vài loại: tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại, và tỷ giá hạch toán. Tỷ giá mua vào và bán ra ngoại tệ niêm yết tại một số ngân hàng để phục vụ khách đổi tiền là tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại có tính thêm phí dịch vụ. Còn tỷ giá đổi tiền tại các cửa hàng kinh doanh vàng bạc ngoại tệ của tư nhân hay khi đổi tiền trong nhân dân chính là tỷ giá hối đoái song song. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ lệ trao đổi gữa 2 đồng tiền, tỷ giá hối đoái này không xét đến tương quan giá cả hay tương quan lạm phát giữa hai nước.
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá hối đoái có xét đến tương quan giá cả giữa hai nước hoặc tương quan tỷ lệ lạm phát giữa hai nước. Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau: En∗P f Er = Pd Trong đó: Er là tỷ giá hối đoái thực tế En là tỷ giá hối đoái danh nghĩa Pf là giá nước ngoài Pd là giá nội địa Tỷ giá hối đoái song phương và tỷ giá hối đoái hiệu lực Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được gọi là tỷ giá hối đoái song phương.