Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khả năng sinh trưởng của gà Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, là sự tăng về các chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật. Đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể.
Để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm người ta có nhiều cách đánh giá khác nhau, nhưng hiện nay các nhà chọn giống và các nhà chăn nuôi thường áp dụng theo phương pháp định lượng bao gồm: Đo kích thước các chiều đo của cơ thể và định kỳ cân khối lượng. Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm như sau: Kích thước cơ thể: Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, đặc trương cho từng giai đoạn sinh trưởng, từng giống, qua đó góp phần vào việc phân biệt giống. Giới hạn kích thước của loài, cá thể… do tính di truyền quy định. Tính di truyền của kích thước không tuân theo sự phân ly đơn giản theo quy luật Melden.
Sinh trưởng tích luỹ: là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi tích luỹ được qua thời gian khảo sát. Các thông số thu được qua các lần cân đo là biểu thị sinh trưởng tích luỹ của vật nuôi. Sinh trưởng tuyệt đối (A): là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi tăng lên trong một đơn vị thời gian. Đối với lợn, đơn vị sinh trưởng tuyệt đối thường là gam/con/ngày.
Sinh trưởng tương đối (R): là tỷ lệ % của phần khối lượng (thể tích, kích thước) tăng lên so với khối lượng (thể tích, kích thước) thời điểm cân đo. Đơn vị sinh trưởng tương đối thường là %. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà 1. Ảnh hưởng của dòng, giống Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm.
Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng. Tuy nhiên, có những tính trạng số lượng mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như số trứng đẻ ra/lứa/năm. Đó là tính trạng số lượng đặc biệt.
Sinh trưởng của gia cầm còn phụ thuộc vào loài, giống, tính biệt và cá thể. Ảnh hưởng của thức ăn dinh dưỡng Chế độ dinh dưỡng là một trong những yếu tố có tác động mạnh đến tốc độ sinh trưởng cũng như lượng thịt, trứng gia cầm. Chúng trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, vì vậy nghiên cứu chế độ dinh dưỡng hợp lý cho gia cầm là việc làm cần thiết có ý nghĩa thiết thực. Dinh dưỡng không chỉ cần thiết cho sinh trưởng mà còn cần thiết để thể hiện khả năng di truyền của sinh trưởng.
Gà broiler phát triển mạnh nên đòi hỏi lượng thức ăn tương ứng để phát huy tiềm năng di truyền của chúng. Chi phí thức ăn chiếm 70% giá thành gà broiler, do vậy để có năng suất cao trong chăn nuôi gia cầm - đặc biệt phát huy tiềm năng sinh trưởng, thì một trong những vấn đề căn bản là lập ra những khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo nhu cầu của gia cầm qua từng giai đoạn nuôi. Dinh dưỡng cho gà thịt bao gồm: Protein, gluxit, lipit, muối khoáng, vitamin và chất xơ. Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1993) cho rằng, để phát huy tối đa khả năng sinh trưởng của gia cầm thì việc cung cấp thức ăn đầy đủ và tối ưu các chất dinh dưỡng, cân bằng protein, các axit amin và năng lượng là điều tối cần thiết.
+ Ảnh hưởng của protein: Protein là chất cần thiết trong khẩu phần thức ăn cho gà. Ta cần phải cung cấp đủ protein và cân bằng các axit amin thiết yếu 5 trong khẩu phần. Nếu thiếu và không cân bằng dẫn đến hậu quả gà chậm lớn, còi cọc, dễ sinh bệnh. Mặt khác ta phải phối hợp các nguyên liệu giàu protein có nguồn gốc thực vật và động vật trong khẩu phần ăn như: bột cá, bột thịt, bột muối, khô dầu đậu tương, khô dầu mè… Theo Trần Công Xuân (1995) cho biết cùng tổ hợp lai broiler: Ross 208, Ross 208 - V35 nuôi ở 9 lô với 3 mức năng lượng và 3 mức protein, cho khối lượng ở 8 tuần tuổi khác nhau rõ rệt.
Ảnh hưởng của gluxit: Gluxit là chất chủ yếu sinh năng lượng, đảm bảo cho các hoạt động sống diễn gia bình thường, phải cung cấp đầy đủ cho gà để giúp quá trình sinh trưởng diễn ra bình thường. Nếu thừa gluxit trong khẩu phần ăn của gà sẽ dẫn đến hiệu suất tiêu hóa thức ăn thấp và dễ mắc bệnh ỉa chảy. Nếu thiếu gluxit thì cơ thể sẽ huy động lượng gluxit dự trữ dạng mỡ và một phần trong gan làm cho quá trình trao đổi chất giảm, gà còi cọc. Ảnh hưởng của lipit: Lipit là một chất được cấu tạo chủ yếu bởi các axit béo.
Nó có tác dụng chủ yếu tham gia cấu tạo mô đệm, cách nhiệt, là dung môi hòa tan một số vitamin: A, D, E, K, cung cấp nước nội sinh và là nơi dự trữ năng lượng chủ yếu dưới dạng mỡ cho cơ thể gà. Ảnh hưởng của năng lượng: Nhu cầu năng lượng cho gà sinh trưởng bao gồm năng lượng cho duy trì và năng lượng cho tăng trọng. Hwan Ku Kang và cs. (2018) đã nghiên cứu về các mức năng lượng khác nhau, trong thức ăn của gà và đưa ra kết luận rằng mức năng lượng tối ưu cho gà thịt là 3000 - 3200 kcal/kg thức ăn.
Trong chăn nuôi gia cầm đẻ trứng, nếu thiếu năng lượng thì giảm tốc độ phát triển, giảm sản lượng trứng và ảnh hưởng đến khối lượng trứng. Nhu cầu về năng lượng tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của cá thể và tuỳ thuộc từng giai đoạn đẻ. Ảnh hưởng của chất khoáng và vitamin: Khoáng đa lượng (Ca, P, Na, Cl) có nhiều trong bột xương, bột cá… Cùng khoáng vi lượng (Fe, Cu, Co, Mn, I…) có nhiều trong bột máu, bột cá… Các nguyên tố khoáng là các nguyên liệu 6 xây dựng nên bộ xương tham gia cấu trúc tế bào và tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Việc cung cấp đầy đủ chất khoáng giúp cho gà sinh trưởng và phát triển bình thường.
Vitamin tham gia vào mọi hoạt động sinh lý, sinh hóa trong cơ thể và đóng vai trò là chất xúc tác, kích thích. Nhu cầu về các loại vitamin ở gà không giống nhau, đối với gà con cần các loại như: A, D 3, E, K, B1, B3, B6, B12, PP và cholin, đối với gà đẻ cần các loại vitamin: A, D, E và cholin. Ảnh hưởng nước uống: Trong cơ thể nước chiếm 70% khối lượng cơ thể, thiếu nước 1 - 2 ngày gà có thể bị chết. Nhiệt độ môi trường cao gà cần một lượng nước nhiều hơn bình thường, ở 22 0C gà cần một lượng nước gấp 1,5 - 2 lần lượng thức ăn.
Còn nhiệt độ lên 35 0C thì gà cần một lượng nước gấp 4,5 - 5 lần lượng thức ăn. Ảnh hưởng của tính biệt Tính biệt cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng cơ thể, gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24 - 32%. Những sai khác này cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng, sự quy định không phải do hormone sinh học mà do các gen liên kết giới tính. Sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm (Chambers, J.
Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt Mật độ nuôi nhốt là yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm, tuy nhiên, ở mỗi phương thức nuôi, mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau thì có yêu cầu về mật độ nuôi khác nhau. Nếu nuôi với mật độ không thích hợp sẽ làm ảnh hưởng tới sinh trưởng của gà và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế. Khi chăn nuôi gà ở mật độ cao thì hàm lượng NH3, CO2 và H2S được sinh ra trong chất độn chuồng cao. Vì khi mật độ gà đông thì lượng bài tiết thải ra nhiều hơn, trong khi đó gà cần tăng cường trao đổi chất nên lượng nhiệt thải ra cũng nhiều, do đó nhiệt độ chuồng nuôi tăng, nên sẽ ảnh hưởng tới việc tăng khối lượng gà và làm tăng tỷ lệ chết khi mật độ chuồng nuôi quá cao cùng nhiệt 7 độ không khí cao.
Ngược lại mật độ nuôi nhốt thấp thì chi phí chuồng cao. Do vậy tùy theo mùa vụ, tuổi gà và mục đích sử dụng cần có mật độ chăn nuôi thích hợp. Tác giả Trần Thanh Vân và cs. (2015) nghiên cứu khả năng sản xuất của gà broiler cho biết, mật độ nuôi nhốt có hưởng tới khả năng sinh trưởng nhưng không ảnh hưởng tới tỷ lệ thịt xẻ.
Tác giả cho biết với gà Cobb 500 nuôi tới 35 ngày tuổi với mật độ 14 con/m2 cho năng suất trên một đơn vị diện tích là cao nhất mà không ảnh hưởng tới hiệu quả chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ nuôi sống. Gà dưới 3 tuần tuổi mật độ nuôi nhốt (nuôi úm) là 20 - 30 con/m 2 nền chuồng, giảm dần đến mật độ 7 - 10 con/m 2 nền chuồng, tùy theo mùa vụ và khối lượng xuất bán. (Trần Thanh Vân và cs. Ảnh hưởng của thời tiết, mùa vụ Nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng chuồng nuôi đều có ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của gia cầm.
Khi nhiệt độ xuống quá thấp, cơ thể gia cầm không điều tiết được, thân nhiệt thay đổi làm rối loạn các hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể, bệnh tật phát sinh làm cơ thể yếu ớt và có thể chết. Nhiệt độ thấp rất nguy hiểm đối với gia cầm non. Nhiệt độ cao sẽ làm cho gia cầm bị chết vì nóng. - Nhiệt độ và ẩm độ môi trường Cũng như nhiệt độ, ẩm độ cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng.
Nước ta là một nước nhiệt đới, khí hâu nóng ẩm, mưa nhiều, nên cũng có những ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà.