Ảnh Hưởng của Thu Nhận và Cung Cấp Kiến Thức Đến Sự Đổi Mới: Vai Trò Trung Gian của Sáng Tạo Cá Nhân

Nghiên cứu ảnh hưởng của thu nhận, cung cấp kiến thức đến đổi mới. Sáng tạo cá nhân đóng vai trò trung gian. Xem ngay báo cáo khoa học chi tiết!

Chuyên ngành

Quản lý kiến thức, Sáng tạo, Đổi mới dịch vụ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo nghiên cứu khoa học

2024

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1. Lý do lựa chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa nghiên cứu

1.7. Kết cấu của đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm liên quan

2.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan

2.4. Xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Quy trình nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

4.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

4.3. Phân tích nhân tố khám phá và khẳng định

4.4. Phân tích mô hình cấu trúc

4.5. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ

5.2. Hàm ý quản trị

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ảnh Hưởng Thu Nhập Đến Đổi Mới Dịch Vụ

Ảnh hưởng của quản lý kiến thức đến kết quả đổi mới của tổ chức thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Quản lý kiến thức (QLKT) là tập hợp các hoạt động để thu nhận, tạo ra, lưu trữ, cung cấp kiến thức của cá nhân hoặc nhóm nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức (Ngoc Thang & Anh Tuan, 2020). Thu nhận kiến thức là thành phần quan trọng, góp phần gia tăng, phát triển và mở rộng kho tàng kiến thức của tổ chức. Kiến thức thu thập được cần phải cung cấp lại để mở rộng tri thức. Lý thuyết dựa trên nguồn lực (Amit & Schoemaker, 1993) thừa nhận rằng kiến thức là nguồn lực quan trọng tạo ra lợi thế cạnh tranh ngày nay (Kucharska & Erickson, 2023). Các tổ chức cần chú trọng vào việc nắm bắt và tận dụng kiến thức (Garcia-Perez và cộng sự, 2020; Kucharska & Erickson, 2023). Trong một tổ chức học tập, việc thu nhậncung cấp kiến thức, đặc biệt là kiến thức ngầm, trở nên quan trọng (Kucharska & Erickson, 2023). Sự sáng tạođổi mới là chủ đề nhiều tổ chức quan tâm, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Quản Lý Tri Thức Trong Ngân Hàng

Ngành ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực thâm dụng tri thức. Số liệu từ Tổng cục Thống kê (2021) cho thấy số lao động đã qua đào tạo, đang làm việc trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng- bảo hiểm và có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên chiếm tỷ trọng cao nhất (86,8%). Ngân hàng đòi hỏi nhân viên có kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ giỏi và am hiểu nhiều văn bản pháp luật. Mức độ áp dụng quản lý kiến thức cũng như cách thức đo lường tác động của quản lý kiến thức đến sáng tạođổi mới hầu như chưa được biết đến (Ngoc Thang & Anh Tuan, 2020). Kiến thức đặc biệt quan trọng đối với các tổ chức dựa trên nền tảng công nghệ. Việc học tập của tổ chức phụ thuộc phần lớn vào thu nhậncung cấp kiến thức (Jelinek, 2017).

1.2. Vai Trò Của Thu Nhận và Cung Cấp Kiến Thức Trong Đổi Mới

Allameh và cộng sự (2020) thừa nhận rằng, thu nhận kiến thức để thúc đẩy sáng tạo là yếu tố quan trọng. Tổ chức nào học hỏi nhanh hơn đối thủ sẽ là một lợi thế cạnh tranh mang tính chất bền vững (Jelinek, 2017). Theo lý thuyết thành phần sáng tạo của Amabile (1996), để gia tăng sáng tạođổi mới cần chú trọng vào động lực, kỹ năng và kiến thức chuyên môn. Một số nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của hoạt động QLKT đến sáng tạođổi mới và tập trung nhiều vào ảnh hưởng của chia sẻ kiến thức (Ahmed và cộng sự, 2016; Soda và cộng sự, 2019). Chia sẻ kiến thức có thể được xem như một cấu trúc đơn hướng (Nguyen và cộng sự, 2019) nhưng cũng có thể tiếp cận dưới dạng cấu trúc đa hướng (Ahmed và cộng sự, 2016; Nguyen, 2021).

II. Thách Thức và Vấn Đề Trong Đổi Mới Ngân Hàng Hiện Nay

Thực tế cho thấy sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, các ngân hàng đang phải đối diện với nhiều áp lực cạnh tranh do sự thay đổi hành vi tiêu dùng cũng như cách thức vận hành công việc. Huang và Liu (2019) nhấn mạnh rằng, sự chuyển đổi từ sáng tạo đến đổi mới trong lĩnh vực dịch vụ chưa được xem xét đầy đủ, kể cả những tiền tố của sáng tạo. Tổng quan các nghiên cứu trong nước về lĩnh vực dịch vụ, tập trung vào lĩnh vực ngân hàng cho thấy vẫn còn thiếu hụt các nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa thu nhậncung cấp kiến thức với sáng tạođổi mới dịch vụ. Phần lớn các nghiên cứu gần đây chỉ tập trung vào hành vi chia sẻ kiến thức (Nguyen và cộng sự, 2019; Nguyen và Malik, 2020) mà không xem xét đến hệ quả của việc chia sẻ kiến thức, chẳng hạn như tính sáng tạođổi mới.

2.1. Hạn Chế Trong Nghiên Cứu Về Chia Sẻ Kiến Thức

Phần lớn các nghiên cứu gần đây chỉ tập trung vào hành vi chia sẻ kiến thức (Nguyen và cộng sự, 2019; Nguyen và Malik, 2020) mà không xem xét đến hệ quả của việc chia sẻ kiến thức, chẳng hạn như tính sáng tạođổi mới. Nghiên cứu mở rộng từ nghiên cứu trước đó bằng cách xem xét đồng thời cả hai khía cạnh cung cấp kiến thứctiếp thu kiến thức cũng như cách chúng thúc đẩy đổi mới thông qua trung gian sáng tạo trong các tổ chức thâm dụng kiến thức như ngân hàng. Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của thu nhận kiến thức, cung cấp kiến thức đến sáng tạođổi mới dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng.

2.2. Thiếu Nghiên Cứu Về Vai Trò Của Sáng Tạo Cá Nhân

Vẫn còn thiếu hụt các nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa thu nhậncung cấp kiến thức với sáng tạođổi mới dịch vụ. Phần lớn các nghiên cứu gần đây chỉ tập trung vào hành vi chia sẻ kiến thức (Nguyen và cộng sự, 2019; Nguyen và Malik, 2020) mà không xem xét đến hệ quả của việc chia sẻ kiến thức, chẳng hạn như tính sáng tạođổi mới. Do đó, nghiên cứu này mở rộng từ nghiên cứu trước đó bằng cách xem xét đồng thời cả hai khía cạnh cung cấp kiến thứctiếp thu kiến thức cũng như cách chúng thúc đẩy đổi mới thông qua trung gian sáng tạo trong các tổ chức thâm dụng kiến thức như ngân hàng.

III. Cách Thu Nhập Kiến Thức Tác Động Đến Sáng Tạo Cá Nhân

Thu nhận kiến thức là thành phần quan trọng bởi hoạt động này góp phần làm gia tăng, phát triển và mở rộng kho tàng kiến thức của tổ chức. Quan điểm dựa trên kiến thức của tổ chức là sự mở rộng của lý thuyết dựa trên nguồn lực (Amit & Schoemaker, 1993). Lý thuyết dựa trên nguồn lực đã thừa nhận rằng, kiến thức là nguồn lực quan trọng để tạo ra lợi thế cạnh tranh ngày nay (Kucharska & Erickson, 2023). Trong một tổ chức học tập, khi hướng tới sự sáng tạođổi mới thì việc thu nhậncung cấp kiến thức, đặc biệt là kiến thức ngầm sẽ trở nên quan trọng (Kucharska & Erickson, 2023).

3.1. Mở Rộng Tri Thức Tổ Chức Qua Thu Nhận Kiến Thức

Trong hoạt động QLKT, thu nhận kiến thức được xem là thành phần quan trọng bởi hoạt động này góp phần làm gia tăng, phát triển và mở rộng kho tàng kiến thức của tổ chức. Ngoài ra, kiến thức thu thập được cần phải cung cấp lại cho các đối tượng khác để mở rộng tri thức của cá nhân, nhóm và tổ chức. Quan điểm dựa trên kiến thức của tổ chức là sự mở rộng của lý thuyết dựa trên nguồn lực (Amit & Schoemaker, 1993). Thuyết này thừa nhận kiến thức là nguồn lực quan trọng để tạo ra lợi thế cạnh tranh ngày nay (Kucharska & Erickson, 2023).

3.2. Kiến Thức Ngầm Thúc Đẩy Sáng Tạo Trong Tổ Chức Học Tập

Trong một tổ chức học tập, khi hướng tới sự sáng tạođổi mới thì việc thu nhậncung cấp kiến thức, đặc biệt là kiến thức ngầm sẽ trở nên quan trọng (Kucharska & Erickson, 2023). Chính vì vậy, các tổ chức cần chú trọng vào việc nắm bắt và tận dụng kiến thức để gia tăng lợi thế cạnh tranh (Garcia-Perez và cộng sự, 2020; Kucharska & Erickson, 2023).

IV. Cung Cấp Kiến Thức Ảnh Hưởng Đến Đổi Mới Dịch Vụ Ngân Hàng

Cung cấp kiến thức không có tác động trực tiếp đến tính sáng tạođổi mới mà có tác động gián tiếp thông qua trung gian thu nhận kiến thức. Sáng tạo còn được coi là đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa tiếp thu kiến thức và đổi mới. Kết quả nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào nền tảng lý thuyết, cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa thu nhậncung cấp kiến thức, sáng tạo, và sự đổi mới.

4.1. Tác Động Gián Tiếp Của Cung Cấp Kiến Thức Qua Thu Nhận

Cung cấp kiến thức không có tác động trực tiếp đến tính sáng tạođổi mới mà có tác động gián tiếp thông qua trung gian thu nhận kiến thức. Kết quả nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào nền tảng lý thuyết, cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa thu nhậncung cấp kiến thức, sáng tạo, và sự đổi mới. Sáng tạo cá nhân có vai trò trung gian giúp kết nối hai yếu tố quan trọng của quản lý tri thức là thu nhậncung cấp kiến thức với quá trình đổi mới dịch vụ, từ đó các ngân hàng có thể triển khai những giải pháp hiệu quả hơn.

4.2. Xây Dựng Mạng Lưới Chia Sẻ Kiến Thức Để Thúc Đẩy Sáng Tạo

Nói cách khác, thu nhận kiến thức đóng vai trò quan trọng trong các tổ chức ngân hàng bởi hoạt động này sẽ thúc đẩy cung cấp kiến thức giữa các nhân viên lẫn nhau tạo ra một mạng lưới cung cấpthu nhận kiến thức để từ đó góp phần gia tăng sáng tạo cá nhân và thúc đẩy đổi mới dịch vụ. Kết quả nghiên cứu này hỗ trợ các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực thâm dụng kiến thức, chẳng hạn như ngân hàng, hiểu được lợi ích của việc chia sẻ kiến thức thông qua cung cấptiếp thu kiến thức để nâng cao tính sáng tạo và thúc đẩy đổi mới.

V. Vai Trò Sáng Tạo Cá Nhân Trong Mối Quan Hệ Kiến Thức và Đổi Mới

Nhiều người vẫn coi sự sáng tạo thuần túy là sản phẩm của tài năng và đặc điểm cá nhân. Trong một thời gian dài, hầu hết các nhà nghiên cứu về sáng tạo dường như đều giữ quan điểm tương tự. Vào đầu những năm 1960, lĩnh vực này dường như hội tụ xung quanh một định nghĩa về sáng tạo là việc tạo ra những ý tưởng hoặc tác phẩm mới, phù hợp (Amabile và Pillemer, 2012). Tuy nhiên, có những xu hướng khác trong tài liệu về sáng tạo thời kỳ đầu lập luận rằng khả năng sáng tạo không phải là một phẩm chất cố định, giống như đặc điểm của cá nhân mà đúng hơn là một kỹ năng có thể được dạy, học, thực hành và cải thiện.

5.1. Lý Thuyết Thành Phần Sáng Tạo của Amabile 1996

Theo Lý thuyết thành phần sáng tạo (Amabile, 1996), kiến thức là thành phần quan trọng để thúc đẩy sự sáng tạođổi mới của cá nhân. Sự sáng tạo của nhân viên đề cập đến việc tạo ra các ý tưởng, sản phẩm và quy trình mang tính mới lạ và hữu ích (Koseoglu và cộng sự, 2017; Thuan và Thanh, 2020). Sáng tạo cá nhân có vai trò trung gian giúp kết nối hai yếu tố quan trọng của quản lý tri thức là thu nhậncung cấp kiến thức với quá trình đổi mới dịch vụ, từ đó các ngân hàng có thể triển khai những giải pháp hiệu quả hơn.

5.2. Sáng Tạo Là Bước Đầu Tiên Của Quá Trình Đổi Mới

Đổi mới là việc phát triển và thực hiện những những ý tưởng mới, sản phẩm mới và cách làm mới vào trong thực tế (Che và cộng sự, 2019; Thuan và Thanh, 2020). Bởi vậy, sáng tạo được xem như bước thứ nhất để tạo ra các ý tưởng mới và đổi mới được xem như bước thứ hai khi triển khai và áp dụng chúng vào thực tế (Anderson và cộng sự, 2014; Che và cộng sự, 2019; Thuan và Thanh, 2020).

VI. Hàm Ý Quản Trị Để Thúc Đẩy Sáng Tạo và Đổi Mới Ngân Hàng

Từ góc độ thực tế, những phát hiện của nghiên cứu này hỗ trợ các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực thâm dụng kiến thức, chẳng hạn như ngân hàng, hiểu được lợi ích của việc chia sẻ kiến thức thông qua cung cấptiếp thu kiến thức để nâng cao tính sáng tạo và thúc đẩy đổi mới. Nói cách khác, thu nhận kiến thức đóng vai trò quan trọng trong các tổ chức ngân hàng bởi hoạt động này sẽ thúc đẩy cung cấp kiến thức giữa các nhân viên lẫn nhau tạo ra một mạng lưới cung cấpthu nhận kiến thức để từ đó góp phần gia tăng sáng tạo cá nhân và thúc đẩy đổi mới dịch vụ.

6.1. Ứng Dụng Nghiên Cứu Vào Thực Tiễn Quản Lý Ngân Hàng

Kết quả nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào nền tảng lý thuyết, cung cấp sự hiểu biết sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa thu nhậncung cấp kiến thức, sáng tạo, và sự đổi mới. Từ góc độ thực tế, những phát hiện của nghiên cứu này hỗ trợ các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực thâm dụng kiến thức, chẳng hạn như ngân hàng, hiểu được lợi ích của việc chia sẻ kiến thức thông qua cung cấptiếp thu kiến thức để nâng cao tính sáng tạo và thúc đẩy đổi mới.

6.2. Tạo Môi Trường Thúc Đẩy Thu Nhận và Cung Cấp Kiến Thức

Sáng tạo cá nhân có vai trò trung gian giúp kết nối hai yếu tố quan trọng của quản lý tri thức là thu nhậncung cấp kiến thức với quá trình đổi mới dịch vụ, từ đó các ngân hàng có thể triển khai những giải pháp hiệu quả hơn. Nói cách khác, thu nhận kiến thức đóng vai trò quan trọng trong các tổ chức ngân hàng bởi hoạt động này sẽ thúc đẩy cung cấp kiến thức giữa các nhân viên lẫn nhau tạo ra một mạng lưới cung cấpthu nhận kiến thức để từ đó góp phần gia tăng sáng tạo cá nhân và thúc đẩy đổi mới dịch vụ.

28/04/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở ảnh hưởng của thu nhận và cung cấp kiến thức đến sự đổi mới vai trò trung gian của sáng tạo cá nhân

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 thuộc chương đầu tiên của đề tài đã trình bày những nội dung cơ bản liên quan đến lý do lựa chọn đề tài cũng như đặt ra các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu mà đề tài hướng đến để giải quyết. Ngoài ra, nghiên cứu trình bày rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Tiếp theo đề tài cung cấp minh chứng về ý nghĩa lý thuyết cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Cuối cùng là trình kết cấu của đề tài theo hướng tiếp cận hỗn hợp.

7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này đề tài trình bày về lý thuyết nền liên quan đến chủ đề nghiên cứu cũng như một số khái niệm liên quan. Tổng quan lý thuyết cũng được thực hiện để tìm ra khe hổng nghiên cứu. Ngoài ra, mối quan hệ giữa khái niệm cũng được dẫn chứng và lập luận chặt chẽ để đưa ra giả thuyết nghiên cứu. Trên cơ sở đó đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài.1 Một số khái niệm liên quan và bối cảnh hiện tại của ngân hàng Chergui và cộng sự (2020) lập luận rằng, vốn trí tuệ của các tổ chức đã trở thành nguồn lực thiết yếu để tồn tại và việc làm chủ các công cụ sản xuất dường như không còn đủ để các tổ chức tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh của mình.

Điều này ngụ ý rằng, các tổ chức cần phải tìm cách tạo ra các đặc thù riêng có của mình để cải thiện và duy trì lợi thế cạnh tranh. Tính đặc thù tạo ra lợi thế cạnh tranh này lại phụ thuộc vào khả năng của tổ chức trong việc xác định kiến thức mà nhân viên nắm giữ và sau đó tìm cách huy động kiến thức một cách nhanh chóng nhằm thúc đẩy sự phát triển của họ, tạo cơ sở cho các chiến lược cạnh tranh mới. Khái niệm kiến thức liên quan đến khả năng suy luận của con người dựa trên sự quan sát, nhận thức và kiến thức đã có được trước đó (Chergui và cộng sự, 2020). Do sự đa dạng và không ngừng gia tăng liên tục của kiến thức nên có thể có nhiều cách tiếp cận theo các hướng khác nhau.

Kiến thức là kết quả của thông tin và hành động của chúng ta liên quan đến trí nhớ và quá trình xây dựng một hình ảnh đại diện, kiến thức gắn liền với cấu trúc nhận thức cho phép diễn giải thông tin thu được thông qua kinh nghiệm, học tập để tham gia vào một hoạt động trong một tình huống cụ thể (Chergui và cộng sự, 2020). Quản lý kiến thức được định nghĩa là một tập hợp các hoạt động hoặc nỗ lực của một tổ chức để thu nhận, tạo ra, lưu trữ, cung cấp, phát triển, phổ biến và triển khai kiến thức của các cá nhân hoặc nhóm để nâng cao hiệu suất của tổ chức (Ngoc Thang & Anh Tuan, 2020). Trong hoạt động QLKT thì chia sẻ kiến thức đóng vai trò quan trọng. Chia sẻ kiến thức được định nghĩa là các hoạt động chuyển giao, phổ 8 biến và trao đổi kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng và thông tin có giá trị từ cá nhân này sang các cá nhân khác trong một tổ chức để đảm bảo kiến thức được triển khai và lưu giữ liên tục trong tổ chức.

Nó có thể là chính thức và không chính thức, và ở các hình thức khác nhau như thư từ bằng văn bản, giao tiếp mặt đối mặt hoặc bằng cách sử dụng hệ thống kiến thức điện tử, xảy ra giữa các thành viên trong nhóm hoặc trong và giữa các đơn vị tổ chức khác nhau. Nó cũng bao gồm giao tiếp tích cực, hợp tác, giúp đỡ người khác, tư vấn và cố vấn (Šajeva, 2014). Chia sẻ tri thức là một cấu trúc đa hướng và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong nghiên cứu này, hoạt động chia sẻ kiến thức mang tính chất hai chiều bao gồm thu nhận và cung cấp kiến thức.

Nhiều người vẫn coi sự sáng tạo thuần túy là sản phẩm của tài năng và đặc điểm cá nhân. Trong một thời gian dài, hầu hết các nhà nghiên cứu về sáng tạo dường như đều giữ quan điểm tương tự. Vào đầu những năm 1960, lĩnh vực này dường như hội tụ xung quanh một định nghĩa về sáng tạo là việc tạo ra những ý tưởng hoặc tác phẩm mới, phù hợp (Amabile và Pillemer, 2012). Nhóm tác giả này cũng cho rằng có những xu hướng khác trong tài liệu về sáng tạo thời kỳ đầu lập luận rằng khả năng sáng tạo không phải là một phẩm chất cố định, giống như đặc điểm của cá nhân mà đúng hơn là một kỹ năng có thể được dạy, học, thực hành và cải thiện.

Lý thuyết thành phần sáng tạo được thể hiện như Hình 2. Kỹ năng Chuyên sáng tạo môn Sáng tạo Động lực Hình 2.1: Mô hình thành phần sáng tạo của Amabile (1996) 9 Kiến thức là thành phần quan trọng để thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới của cá nhân (Amabile, 1996). Sự sáng tạo của nhân viên đề cập đến việc tạo ra các ý tưởng, sản phẩm và quy trình mang tính mới lạ và hữu ích (Koseoglu và cộng sự, 2017; Thuan và Thanh, 2020). Đổi mới là việc phát triển và thực hiện những những ý tưởng mới, sản phẩm mới và cách làm mới vào trong thực tế (Che và cộng sự, 2019; Thuan và Thanh, 2020).

Bởi vậy, sáng tạo được xem như bước thứ nhất để tạo ra các ý tưởng mới và đổi mới được xem như bước thứ hai khi triển khai và áp dụng chúng vào thực tế (Anderson và cộng sự, 2014; Che và cộng sự, 2019; Thuan và Thanh, 2020). Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tài chính, kéo theo sự hồi sinh của ngành ngân hàng và nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này ngày càng tăng. Có thể khẳng định, ngành ngân hàng ở Việt Nam là ngành có hàm lượng tri thức cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2021, tỷ lệ lao động được đào tạo từ 15 tuổi trở lên làm việc trong lĩnh vực “tài chính - ngân hàng - bảo hiểm” trong nền kinh tế là cao nhất và tỷ lệ này tăng đều qua các năm, từ 82,9% năm 2015 lên 86,8% năm 2021.

Chính vì vậy, ngành ngân hàng cần thiết phải chú trọng vào hoạt động quản lý tri thức để nâng cao sáng tạo và đổi mới nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh. Trong năm 2020, trong chỉ số đổi mới toàn cầu thì Việt Nam xếp hạng 42 trong số 131 quốc gia về chỉ số sáng tạo. Đối với ngành ngân hàng, tập trung vào các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong thời gian qua đã bắt đầu chú trọng vào hoạt động đổi mới sáng tạo. Điển hình như ngân hàng Vietcombank đã tổ chức cuộc thi sáng kiến “Đổi mới - Sáng tạo để phát triển và hội nhập” hay như ngân hàng Bản Việt, ngân hàng Tiên Phong, Sacombank.

cũng đã rất chú trọng đến hoạt động sáng tạo và đổi mới dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng của họ.2 Lý thuyết nền Theo lý thuyết thành phần về sáng tạo và đổi mới của Amabile (1996) cho rằng, sự sáng tạo của cá nhân được hình thành từ ba thành phần: Kiến thức chuyên 10 môn của cá nhân, kỹ năng sáng tạo của cá nhân và động cơ của cá nhân. Các thành phần bên trong cá nhân thứ nhất là các kiến thức liên quan đến lĩnh vực đó (chuyên môn, kỹ năng kỹ thuật và tài năng bẩm sinh trong lĩnh vực liên quan); thứ hai là các kỹ năng liên quan đến sáng tạo, sau này được đổi tên thành “các quá trình liên quan đến sáng tạo” (phong cách nhận thức linh hoạt, các đặc điểm tính cách như cởi mở với trải nghiệm, kỹ năng sử dụng các phương pháp suy nghiệm tư duy sáng tạo và phong cách làm việc kiên trì) và thứ ba là động lực thực hiện nhiệm vụ nội tại (Amabile và Pillemer, 2012). Trong ba thành phần này, kiến thức chuyên môn được xem là thành phần quan trọng để tạo ra sự sáng tạo của cá nhân. Andreeva & Kianto (2011) cũng xác nhận rằng, sáng tạo và đổi mới phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức.

Lý thuyết thành phần đã được thử nghiệm và mở rộng trong nhiều nghiên cứu tâm lý học trong nhiều năm qua (Amabile và Pillemer, 2012). Như vậy, lý thuyết thành phần sáng tạo của Amabile (1996) đã thiết lập cho mối quan hệ giữa kiến thức và sáng tạo, đổi mới. Một cá nhân chỉ có thể sáng tạo và đổi mới dựa trên nền tảng tri thức phong phú của họ. Cách tiếp cận của tổ chức dựa trên tri thức nhấn mạnh sự đổi mới và sáng tạo như một nguồn lợi thế cạnh tranh.

Sự sáng tạo và đổi mới được kích hoạt thông qua quá trình chia sẻ kiến thức chuyên môn giữa các cá nhân và nhóm trong tổ chức, đồng thời là nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo (Konstantinou & Fincham, 2011). Do đó, mối quan hệ giữa thu nhận kiến thức và cung cấp kiến thức cũng được bắt nguồn từ nền tảng chia sẻ kiến thức của các cá nhân trong tổ chức. Các cá nhân muốn cung cấp kiến thức cho người khác thì họ phải có lượng kiến thức nhất định và do đó họ có nhu cầu thu nhận kiến thức để làm phong phú thêm cho nền tảng kiến thức của chính mình. Nhìn chung lý thuyết thành phần của Amabile (1996) giúp giải thích cho mối quan hệ giữa thu nhận và cung cấp kiến thức với sự sáng tạo và đổi mới dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng là hoàn toàn phù hợp.

Dựa trên lý thuyết vốn xã hội, chia sẻ kiến thức bao gồm cung cấp và thu nhận kiến thức giữa các cá nhân có thể dẫn đế sự tương hỗ lẫn nhau dựa theo nguyên tắc 11 có đi có lại. Henttonen và cộng sự (2016) lập luận rằng, trong tổ chức, cá nhân cung cấp kiến thức thường liên quan đến chuyên môn của người đó và họ cũng có khả năng nhận lại kiến thức liên quan. Lý thuyết trao đổi xã hội cũng được xem là lý thuyết nền tảng giúp giải thích mối quan hệ giữa thu nhận và cung cấp kiến thức dựa trên nguyên tắc có đi có lại. Konstantinou & Fincham (2011) cho rằng, cung cấp và thu nhận kiến thức phản ánh nguyên tắc trao đổi xã hội.

Khi một người cung cấp kiến thức cho người khác, họ kỳ vọng sẽ được bù đắp bằng cách nhận lại kiến thức từ người đã được cung cấp. Theo lý thuyết trao đổi xã hội (Blau, 1964) mọi người trao đổi kiến thức dựa trên nguyên tắc so sánh lợi ích và chi phí trong hoạt động trao đổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ