chương 1 thuộc chương đầu tiên của đề tài đã trình bày những nội dung cơ bản liên quan đến lý do lựa chọn đề tài cũng như đặt ra các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu mà đề tài hướng đến để giải quyết. Ngoài ra, nghiên cứu trình bày rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài. Tiếp theo đề tài cung cấp minh chứng về ý nghĩa lý thuyết cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Cuối cùng là trình kết cấu của đề tài theo hướng tiếp cận hỗn hợp.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này đề tài trình bày về lý thuyết nền liên quan đến chủ đề nghiên cứu cũng như một số khái niệm liên quan. Tổng quan lý thuyết cũng được thực hiện để tìm ra khe hổng nghiên cứu. Ngoài ra, mối quan hệ giữa khái niệm cũng được dẫn chứng và lập luận chặt chẽ để đưa ra giả thuyết nghiên cứu. Trên cơ sở đó đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài.1 Một số khái niệm liên quan và bối cảnh hiện tại của ngân hàng Chergui và cộng sự (2020) lập luận rằng, vốn trí tuệ của các tổ chức đã trở thành nguồn lực thiết yếu để tồn tại và việc làm chủ các công cụ sản xuất dường như không còn đủ để các tổ chức tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh của mình.
Điều này ngụ ý rằng, các tổ chức cần phải tìm cách tạo ra các đặc thù riêng có của mình để cải thiện và duy trì lợi thế cạnh tranh. Tính đặc thù tạo ra lợi thế cạnh tranh này lại phụ thuộc vào khả năng của tổ chức trong việc xác định kiến thức mà nhân viên nắm giữ và sau đó tìm cách huy động kiến thức một cách nhanh chóng nhằm thúc đẩy sự phát triển của họ, tạo cơ sở cho các chiến lược cạnh tranh mới. Khái niệm kiến thức liên quan đến khả năng suy luận của con người dựa trên sự quan sát, nhận thức và kiến thức đã có được trước đó (Chergui và cộng sự, 2020). Do sự đa dạng và không ngừng gia tăng liên tục của kiến thức nên có thể có nhiều cách tiếp cận theo các hướng khác nhau.
Kiến thức là kết quả của thông tin và hành động của chúng ta liên quan đến trí nhớ và quá trình xây dựng một hình ảnh đại diện, kiến thức gắn liền với cấu trúc nhận thức cho phép diễn giải thông tin thu được thông qua kinh nghiệm, học tập để tham gia vào một hoạt động trong một tình huống cụ thể (Chergui và cộng sự, 2020). Quản lý kiến thức được định nghĩa là một tập hợp các hoạt động hoặc nỗ lực của một tổ chức để thu nhận, tạo ra, lưu trữ, cung cấp, phát triển, phổ biến và triển khai kiến thức của các cá nhân hoặc nhóm để nâng cao hiệu suất của tổ chức (Ngoc Thang & Anh Tuan, 2020). Trong hoạt động QLKT thì chia sẻ kiến thức đóng vai trò quan trọng. Chia sẻ kiến thức được định nghĩa là các hoạt động chuyển giao, phổ 8 biến và trao đổi kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng và thông tin có giá trị từ cá nhân này sang các cá nhân khác trong một tổ chức để đảm bảo kiến thức được triển khai và lưu giữ liên tục trong tổ chức.
Nó có thể là chính thức và không chính thức, và ở các hình thức khác nhau như thư từ bằng văn bản, giao tiếp mặt đối mặt hoặc bằng cách sử dụng hệ thống kiến thức điện tử, xảy ra giữa các thành viên trong nhóm hoặc trong và giữa các đơn vị tổ chức khác nhau. Nó cũng bao gồm giao tiếp tích cực, hợp tác, giúp đỡ người khác, tư vấn và cố vấn (Šajeva, 2014). Chia sẻ tri thức là một cấu trúc đa hướng và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong nghiên cứu này, hoạt động chia sẻ kiến thức mang tính chất hai chiều bao gồm thu nhận và cung cấp kiến thức.
Nhiều người vẫn coi sự sáng tạo thuần túy là sản phẩm của tài năng và đặc điểm cá nhân. Trong một thời gian dài, hầu hết các nhà nghiên cứu về sáng tạo dường như đều giữ quan điểm tương tự. Vào đầu những năm 1960, lĩnh vực này dường như hội tụ xung quanh một định nghĩa về sáng tạo là việc tạo ra những ý tưởng hoặc tác phẩm mới, phù hợp (Amabile và Pillemer, 2012). Nhóm tác giả này cũng cho rằng có những xu hướng khác trong tài liệu về sáng tạo thời kỳ đầu lập luận rằng khả năng sáng tạo không phải là một phẩm chất cố định, giống như đặc điểm của cá nhân mà đúng hơn là một kỹ năng có thể được dạy, học, thực hành và cải thiện.
Lý thuyết thành phần sáng tạo được thể hiện như Hình 2. Kỹ năng Chuyên sáng tạo môn Sáng tạo Động lực Hình 2.1: Mô hình thành phần sáng tạo của Amabile (1996) 9 Kiến thức là thành phần quan trọng để thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới của cá nhân (Amabile, 1996). Sự sáng tạo của nhân viên đề cập đến việc tạo ra các ý tưởng, sản phẩm và quy trình mang tính mới lạ và hữu ích (Koseoglu và cộng sự, 2017; Thuan và Thanh, 2020). Đổi mới là việc phát triển và thực hiện những những ý tưởng mới, sản phẩm mới và cách làm mới vào trong thực tế (Che và cộng sự, 2019; Thuan và Thanh, 2020).
Bởi vậy, sáng tạo được xem như bước thứ nhất để tạo ra các ý tưởng mới và đổi mới được xem như bước thứ hai khi triển khai và áp dụng chúng vào thực tế (Anderson và cộng sự, 2014; Che và cộng sự, 2019; Thuan và Thanh, 2020). Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tài chính, kéo theo sự hồi sinh của ngành ngân hàng và nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này ngày càng tăng. Có thể khẳng định, ngành ngân hàng ở Việt Nam là ngành có hàm lượng tri thức cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2021, tỷ lệ lao động được đào tạo từ 15 tuổi trở lên làm việc trong lĩnh vực “tài chính - ngân hàng - bảo hiểm” trong nền kinh tế là cao nhất và tỷ lệ này tăng đều qua các năm, từ 82,9% năm 2015 lên 86,8% năm 2021.
Chính vì vậy, ngành ngân hàng cần thiết phải chú trọng vào hoạt động quản lý tri thức để nâng cao sáng tạo và đổi mới nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh. Trong năm 2020, trong chỉ số đổi mới toàn cầu thì Việt Nam xếp hạng 42 trong số 131 quốc gia về chỉ số sáng tạo. Đối với ngành ngân hàng, tập trung vào các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong thời gian qua đã bắt đầu chú trọng vào hoạt động đổi mới sáng tạo. Điển hình như ngân hàng Vietcombank đã tổ chức cuộc thi sáng kiến “Đổi mới - Sáng tạo để phát triển và hội nhập” hay như ngân hàng Bản Việt, ngân hàng Tiên Phong, Sacombank.
cũng đã rất chú trọng đến hoạt động sáng tạo và đổi mới dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng của họ.2 Lý thuyết nền Theo lý thuyết thành phần về sáng tạo và đổi mới của Amabile (1996) cho rằng, sự sáng tạo của cá nhân được hình thành từ ba thành phần: Kiến thức chuyên 10 môn của cá nhân, kỹ năng sáng tạo của cá nhân và động cơ của cá nhân. Các thành phần bên trong cá nhân thứ nhất là các kiến thức liên quan đến lĩnh vực đó (chuyên môn, kỹ năng kỹ thuật và tài năng bẩm sinh trong lĩnh vực liên quan); thứ hai là các kỹ năng liên quan đến sáng tạo, sau này được đổi tên thành “các quá trình liên quan đến sáng tạo” (phong cách nhận thức linh hoạt, các đặc điểm tính cách như cởi mở với trải nghiệm, kỹ năng sử dụng các phương pháp suy nghiệm tư duy sáng tạo và phong cách làm việc kiên trì) và thứ ba là động lực thực hiện nhiệm vụ nội tại (Amabile và Pillemer, 2012). Trong ba thành phần này, kiến thức chuyên môn được xem là thành phần quan trọng để tạo ra sự sáng tạo của cá nhân. Andreeva & Kianto (2011) cũng xác nhận rằng, sáng tạo và đổi mới phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức.
Lý thuyết thành phần đã được thử nghiệm và mở rộng trong nhiều nghiên cứu tâm lý học trong nhiều năm qua (Amabile và Pillemer, 2012). Như vậy, lý thuyết thành phần sáng tạo của Amabile (1996) đã thiết lập cho mối quan hệ giữa kiến thức và sáng tạo, đổi mới. Một cá nhân chỉ có thể sáng tạo và đổi mới dựa trên nền tảng tri thức phong phú của họ. Cách tiếp cận của tổ chức dựa trên tri thức nhấn mạnh sự đổi mới và sáng tạo như một nguồn lợi thế cạnh tranh.
Sự sáng tạo và đổi mới được kích hoạt thông qua quá trình chia sẻ kiến thức chuyên môn giữa các cá nhân và nhóm trong tổ chức, đồng thời là nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo (Konstantinou & Fincham, 2011). Do đó, mối quan hệ giữa thu nhận kiến thức và cung cấp kiến thức cũng được bắt nguồn từ nền tảng chia sẻ kiến thức của các cá nhân trong tổ chức. Các cá nhân muốn cung cấp kiến thức cho người khác thì họ phải có lượng kiến thức nhất định và do đó họ có nhu cầu thu nhận kiến thức để làm phong phú thêm cho nền tảng kiến thức của chính mình. Nhìn chung lý thuyết thành phần của Amabile (1996) giúp giải thích cho mối quan hệ giữa thu nhận và cung cấp kiến thức với sự sáng tạo và đổi mới dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng là hoàn toàn phù hợp.
Dựa trên lý thuyết vốn xã hội, chia sẻ kiến thức bao gồm cung cấp và thu nhận kiến thức giữa các cá nhân có thể dẫn đế sự tương hỗ lẫn nhau dựa theo nguyên tắc 11 có đi có lại. Henttonen và cộng sự (2016) lập luận rằng, trong tổ chức, cá nhân cung cấp kiến thức thường liên quan đến chuyên môn của người đó và họ cũng có khả năng nhận lại kiến thức liên quan. Lý thuyết trao đổi xã hội cũng được xem là lý thuyết nền tảng giúp giải thích mối quan hệ giữa thu nhận và cung cấp kiến thức dựa trên nguyên tắc có đi có lại. Konstantinou & Fincham (2011) cho rằng, cung cấp và thu nhận kiến thức phản ánh nguyên tắc trao đổi xã hội.
Khi một người cung cấp kiến thức cho người khác, họ kỳ vọng sẽ được bù đắp bằng cách nhận lại kiến thức từ người đã được cung cấp. Theo lý thuyết trao đổi xã hội (Blau, 1964) mọi người trao đổi kiến thức dựa trên nguyên tắc so sánh lợi ích và chi phí trong hoạt động trao đổi.