Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp niêm yết giữ vai trò nòng cốt đối với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghệ kỹ thuật, tạo việc làm và đóng góp chủ lực cho nguồn thu ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng. Trong cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần, Hội đồng quản trị (HĐQT) giữ vị trí trung tâm trong hệ thống quản trị, đại diện cho cổ đông để định hướng chiến lược, ra quyết định tài chính và giám sát ban điều hành. Tuy nhiên, vấn đề xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành, cũng như yêu cầu minh bạch hóa thông tin và tuân thủ pháp luật luôn là thách thức lớn. Các vụ sụp đổ tài chính quy mô lớn trên thế giới đầu những năm 2000 như Enron và WorldCom đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về cải cách quản trị công ty, đặc biệt là việc nâng cao tính độc lập của HĐQT thông qua sự tham gia của các thành viên độc lập (Independent Directors - ID).
Tại bình diện quốc tế, nhiều chuẩn mực và đạo luật đã được ban hành nhằm chuẩn hóa vai trò của thành viên độc lập, tiêu biểu như Đạo luật Sarbanes-Oxley (SOX 2002) tại Hoa Kỳ, Báo cáo Higgs và Báo cáo Smith (2003), Luật Hỗn hợp về quản trị công ty (CCCG) tại Vương quốc Anh, Nguyên tắc Quản trị công ty tốt của Sở Giao dịch Chứng khoán Úc (ASX) cùng Đạo luật CLERP 9, hay các quy chế quản trị công ty niêm yết tại Hàn Quốc. Tại Việt Nam, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp niêm yết đòi hỏi các cơ chế giám sát quản trị phải được kiện toàn theo Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Khóa luận tập trung kiểm định thực nghiệm mức độ ảnh hưởng của các thành viên độc lập HĐQT tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết, cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật cho việc điều chỉnh cơ cấu quản trị.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của thành viên độc lập HĐQT tới hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2022.
- Đề xuất các kiến nghị quản trị nhằm gia tăng giá trị đóng góp của thành viên độc lập và HĐQT, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tác giả xác định ba câu hỏi nghiên cứu tương ứng:
- Sự xuất hiện của thành viên độc lập HĐQT có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không?
- Các thành viên độc lập HĐQT có ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như thế nào?
- Các doanh nghiệp cần làm gì để gia tăng giá trị đóng góp của thành viên độc lập nói riêng và HĐQT nói chung; qua đó, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ tác động của thành viên độc lập HĐQT tới hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết, đồng thời xem xét các đặc điểm khác của HĐQT (quy mô HĐQT, thành viên nữ, kinh nghiệm HĐQT, sự kiêm nhiệm của CEO) và đặc điểm của doanh nghiệp (quy mô công ty, cơ cấu vốn). Hiệu quả hoạt động được đo lường bằng hai chỉ tiêu kế toán: tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).
- Phạm vi không gian: 441 công ty niêm yết trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Mẫu nghiên cứu loại trừ các tổ chức tài chính (ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư) do tính chất hoạt động và khung khổ pháp lý kế toán đặc thù.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 8 năm, từ năm 2015 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên ba lý thuyết quản trị kinh điển:
- Lý thuyết người đại diện (Agency Theory - Ross 1973; Jensen và Meckling 1976): Phản ánh mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông (người ủy quyền) và ban điều hành (người đại diện). Các nhà điều hành có xu hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân thay vì giá trị của cổ đông. Sự hiện diện của thành viên độc lập trong HĐQT đóng vai trò giám sát khách quan, hạn chế hành vi trục lợi nội bộ, giảm thiểu chi phí đại diện và gia tăng tính minh bạch.
- Lý thuyết quản lý (Stewardship Theory): Giả định rằng các nhà quản lý hành động có trách nhiệm, đáng tin cậy và hướng đến lợi ích chung dài hạn của doanh nghiệp. Theo lý thuyết này, các nhà quản lý điều hành có sự thấu hiểu sâu sát tổ chức nên việc bổ nhiệm thành viên bên ngoài đôi khi không đem lại sự tối ưu hóa bằng việc trao quyền tập trung, như trường hợp kiêm nhiệm giữa Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành (CEO).
- Lý thuyết ràng buộc nguồn lực (Resource Dependency Theory - Pfeffer và Salancik; Johnson và cộng sự, 1996): HĐQT đóng vai trò cầu nối liên kết doanh nghiệp với môi trường kinh doanh bên ngoài. Các thành viên độc lập mang lại chuyên môn sâu rộng, uy tín xã hội, mạng lưới quan hệ đối ngoại và nguồn lực thông tin, giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro môi trường và củng cố vị thế cạnh tranh.
Về khung khổ pháp lý, đề tài vận dụng các quy định của Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 (Điều 137 và Điều 155) liên quan đến tiêu chuẩn, điều kiện và cơ cấu thành viên độc lập trong tổ chức quản trị công ty cổ phần.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Tổng quan tài liệu học thuật trong và ngoài nước, đối chiếu các nghiên cứu thực nghiệm trước đây để xác lập khoảng trống nghiên cứu, xây dựng khung phân tích và phát biểu giả thuyết nghiên cứu $H_1$: "Thành viên độc lập HĐQT có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp".
- Nghiên cứu định lượng: Xử lý dữ liệu bảng (panel data) bằng phần mềm Stata 14. Quy trình ước lượng kinh tế lượng trải qua các bước: hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Tác giả sử dụng kiểm định F để lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM; sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM.
- Xử lý khuyết tật mô hình: Tiến hành kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua ma trận tương quan Pearson và hệ số phóng đại phương sai (VIF); kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng kiểm định Wald (đối với FEM) hoặc Breusch-Pagan LM (đối với REM); kiểm định hiện tượng tự tương quan chuỗi bằng kiểm định Wooldridge. Khi phát hiện các khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan, tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi lặp lại (iFGLS - iterated Feasible Generalized Least Squares) để hiệu chỉnh các ước lượng sai số chuẩn.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo thường niên và báo cáo quản trị công bố trên hệ thống thông tin của Công ty Cổ phần Tài Việt và các cổng thông tin chứng khoán chính thức giai đoạn 2015 – 2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa đặc trưng HĐQT, tính độc lập của HĐQT và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp:
- Nhóm nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Văn Chiến và Trần Mạnh Dũng (2022) nghiên cứu 48 doanh nghiệp giai đoạn 2008 – 2020 và không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa thành viên độc lập và các chỉ số ROA, ROE, EPS. Nguyễn Thị Thu Thủy và Nguyễn Văn Thuận (2021) áp dụng mô hình GMM giai đoạn 2008 – 2018 cho thấy thành viên độc lập có tác động ngược chiều lên Tobin’s Q. Phạm Minh Vương và cộng sự (2021) không tìm thấy bằng chứng tác động của thành viên độc lập lên ROA và Tobin’s Q. Chu Thị Thu Thủy (2020) nhận định thành viên độc lập không có tương quan với ROA nếu thiếu biến điều tiết quy mô HĐQT. Trái lại, Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014) khảo sát 217 công ty sau cổ phần hóa giai đoạn 2012 – 2017 lại chứng minh tính độc lập của HĐQT có tác động cùng chiều rõ rệt đến cả ROA và ROE.
- Nhóm nghiên cứu quốc tế: Elisa Fajarwati và Rini Setyo Witiastuti (2022) so sánh hai thị trường Indonesia và Malaysia, ghi nhận thành viên độc lập tác động thuận chiều tại Malaysia nhưng ngược chiều tại Indonesia. Zhou và cộng sự (2018) khảo sát thị trường Hy Lạp giai đoạn 2008 – 2012, chỉ ra thành viên độc lập tác động âm đến ROA do hạn chế hiểu biết về vận hành nội bộ. Bravo (2017) nghiên cứu 694 công ty tại New York (Hoa Kỳ) khẳng định mối liên hệ tích cực trong bối cảnh hậu Đạo luật SOX, song nhấn mạnh các thành viên độc lập cần ít nhất 6 năm gắn bó mới phát huy được hiệu quả. Makhlouf và cộng sự (2017) tại Jordan và Yu Liu và cộng sự (2015) tại Trung Quốc (với các mô hình FEM, DID, IV-2SLS, GMM) đều tìm thấy mối quan hệ dương giữa tỷ lệ thành viên độc lập và hiệu quả hoạt động.
| Hướng tác động của ID |
Các nghiên cứu tiêu biểu |
| Tác động cùng chiều (+) |
Đoàn Ngọc Phúc & Lê Văn Thông (2014); Yu Liu và cs (2015); Bravo (2017); Makhlouf và cs (2017); Elisa Fajarwati & Rini Setyo Witiastuti (2022 - tại Malaysia). |
| Tác động ngược chiều (-) |
Zhou và cs (2018); Chu Thị Thu Thủy (2020 - khi có biến điều tiết); Nguyễn Thị Thu Thủy & Nguyễn Văn Thuận (2021); Elisa Fajarwati & Rini Setyo Witiastuti (2022 - tại Indonesia). |
| Không có ý nghĩa thống kê |
Vũ Hồng Đức & Phan Bùi Gia Thủy (2013); Phạm Minh Vương và cs (2021); Nguyễn Văn Chiến & Trần Mạnh Dũng (2022). |
Từ tổng quan tài liệu, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước tại thị trường Việt Nam phần lớn có quy mô mẫu tương đối nhỏ, phạm vi ngành hạn chế hoặc thời gian thu thập dữ liệu chưa đủ dài. Đề tài khắc phục khoảng trống này bằng việc mở rộng cỡ mẫu lên 441 doanh nghiệp với chuỗi dữ liệu 8 năm liên tục (2015 – 2022).
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu 5 bước: (1) Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu; (2) Khảo cứu cơ sở lý luận và đề xuất giả thuyết; (3) Thu thập và tiền xử lý dữ liệu; (4) Phân tích thực nghiệm kinh tế lượng; (5) Đề xuất giải pháp và kiến nghị.
Mẫu nghiên cứu gồm 441 công ty phi tài chính với 3.528 quan sát, phân bổ trên 12 nhóm ngành kinh tế như sau:
| STT |
Nhóm ngành kinh tế |
Số lượng công ty |
| 1 |
Bán buôn |
24 |
| 2 |
Bán lẻ |
12 |
| 3 |
Công nghệ và thông tin |
23 |
| 4 |
Dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ |
3 |
| 5 |
Dịch vụ hỗ trợ (hành chính, du lịch, an ninh, kiểm định...) và xử lý rác thải |
2 |
| 6 |
Dịch vụ lưu trú và ăn uống |
2 |
| 7 |
Khai khoáng |
18 |
| 8 |
Sản xuất |
193 |
| 9 |
Sản xuất nông nghiệp |
1 |
| 10 |
Tiện ích |
23 |
| 11 |
Vận tải và kho bãi |
37 |
| 12 |
Xây dựng và bất động sản |
37 |
| Tổng |
Mẫu nghiên cứu toàn thị trường |
441 |
Mô hình hồi quy đa biến được thiết lập cho hai biến phụ thuộc ROA và ROE:
$$\text{ROA}{it} = \alpha_0 + \alpha_1 \text{IND}{it} + \alpha_2 \text{DUAL}{it} + \alpha_3 \text{Bsize}{it} + \alpha_4 \text{FEM}{it} + \alpha_5 \text{EXP}{it} + \alpha_6 \text{Fsize}{it} + \alpha_7 \text{LEV}{it} + \varepsilon_{it}$$
$$\text{ROE}{it} = \beta_0 + \beta_1 \text{IND}{it} + \beta_2 \text{DUAL}{it} + \beta_3 \text{Bsize}{it} + \beta_4 \text{FEM}{it} + \beta_5 \text{EXP}{it} + \beta_6 \text{Fsize}{it} + \beta_7 \text{LEV}{it} + \varepsilon_{it}$$
Hệ thống các biến trong mô hình được xác định theo bảng định lượng sau:
| Loại biến |
Tên biến |
Ký hiệu |
Phương pháp đo lường |
| Biến phụ thuộc |
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản |
ROA |
Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản |
|
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu |
ROE |
Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu |
| Biến độc lập |
Thành viên HĐQT độc lập |
IND |
Số lượng thành viên độc lập trong HĐQT / Tổng số thành viên HĐQT |
| Biến kiểm soát |
Sự kiêm nhiệm của CEO |
DUAL |
Biến giả: Nhận giá trị 1 nếu CEO đồng thời là Chủ tịch HĐQT; nhận 0 nếu tách biệt |
|
Quy mô HĐQT |
Bsize |
Tổng số lượng thành viên trong HĐQT |
|
Thành viên nữ HĐQT |
FEM |
Số lượng thành viên nữ trong HĐQT / Tổng số thành viên HĐQT |
|
Kinh nghiệm của HĐQT |
EXP |
Độ tuổi trung bình của các thành viên trong HĐQT |
|
Quy mô công ty |
Fsize |
Logarit tự nhiên của tổng tài sản cuối năm ($\ln(\text{Tổng tài sản})$) |
|
Cơ cấu vốn |
LEV |
Tổng nợ phải trả / Tổng tài sản |
Chương 3: Thảo luận về kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 3 tập trung phân tích thực trạng thực thi quy định về thành viên độc lập HĐQT theo Điều 137 và Điều 155 Luật Doanh nghiệp 2020. Các tiêu chuẩn độc lập đòi hỏi cá nhân không được là người làm việc hoặc từng làm việc cho công ty/công ty mẹ/công ty con trong 03 năm liền trước đó; không hưởng lương, thù lao ngoài phụ cấp theo quy định; không có quan hệ gia đình với cổ đông lớn hoặc người quản lý; không sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; không từng là thành viên HĐQT/Ban kiểm soát trong ít nhất 05 năm liền trước đó.
Về quy trình xử lý thực nghiệm, tác giả tiến hành:
- Thống kê mô tả toàn bộ các biến trong mô hình dữ liệu bảng nhằm xác định giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và lớn nhất của từng chỉ tiêu qua 3.528 quan sát.
- Phân tích ma trận tương quan giữa các biến nhằm kiểm tra sơ bộ mối liên hệ tuyến tính, kết hợp tính toán hệ số phóng đại phương sai (VIF). Dựa trên tiêu chuẩn học thuật (Hair và cộng sự, 1995), ngưỡng VIF < 10 khẳng định mô hình không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
- Chạy hồi quy đồng thời ba phương pháp Pooled OLS, FEM và REM cho biến ROA và ROE. Sử dụng kiểm định F và kiểm định Hausman để chọn ra dạng mô hình tối ưu.
- Thực hiện các kiểm định chẩn đoán khuyết tật: kiểm định Wald ghi nhận sự xuất hiện của hiện tượng phương sai sai số thay đổi; kiểm định Wooldridge ghi nhận sự xuất hiện của hiện tượng tự tương quan chuỗi trong dữ liệu bảng.
- Khắc phục hoàn toàn các khuyết tật bằng mô hình iFGLS cho cả hai phương trình ROA và ROE, cung cấp các hệ số ước lượng vững để kiểm chứng giả thuyết $H_1$ và thảo luận thực trạng quản trị tại các doanh nghiệp niêm yết.
Chương 4: Kết luận và các kiến nghị
Chương 4 đúc kết các phát hiện nghiên cứu, đưa ra các hàm ý quản trị thiết thực cho doanh nghiệp niêm yết và cơ quan quản lý thị trường. Tác giả đề xuất nhóm giải pháp nhằm nâng cao tính thực chất của các thành viên độc lập trong HĐQT, tránh tình trạng bổ nhiệm mang tính hình thức để đối phó quy định. Đồng thời, chương này chỉ ra các giới hạn nghiên cứu về mặt dữ liệu và gợi mở định hướng mở rộng đề tài trong tương lai.
Kết quả và đóng góp
Về dữ liệu và phạm vi thực nghiệm:
- Công trình xây dựng được bộ dữ liệu bảng cân bằng gồm 441 công ty niêm yết phi tài chính trên HNX và HOSE qua 8 năm liên tục (2015 – 2022), tạo ra 3.528 quan sát đại diện cho 12 nhóm ngành kinh tế tại Việt Nam.
Về phương pháp luận kinh tế lượng:
- Thiết lập quy trình kiểm định và khắc phục khuyết tật mô hình chặt chẽ: từ hồi quy OLS gộp, mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), thông qua kiểm định F và Hausman, kiểm định khuyết tật phương sai sai số thay đổi (Wald test) và kiểm định tự tương quan (Wooldridge test).
- Áp dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi lặp lại (iFGLS) để xử lý triệt để các sai số, đảm bảo tính vững của các ước lượng tham số hồi quy.
Đóng góp học thuật so với các nghiên cứu trước:
- So với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam có quy mô mẫu nhỏ (như Nguyễn Văn Chiến và Trần Mạnh Dũng năm 2022 với 48 doanh nghiệp; Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông năm 2014 với 217 doanh nghiệp giai đoạn 2012 – 2017), khóa luận mở rộng quy mô mẫu lên 441 doanh nghiệp trong chuỗi thời gian dài 8 năm (2015 – 2022).
- Cập nhật bối cảnh thể chế quản trị công ty mới tại Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, làm rõ mức độ tương thích giữa quy định pháp lý và kết quả vận hành thực tế của các doanh nghiệp niêm yết.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận các giới hạn kỹ thuật và phạm vi như sau:
- Phạm vi ngành: Nghiên cứu loại trừ toàn bộ nhóm ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán và quỹ đầu tư do các quy chuẩn kế toán và quy định pháp lý riêng biệt, khiến kết quả nghiên cứu chưa mang tính khái quát cho toàn bộ thị trường niêm yết.
- Tiền xử lý dữ liệu: Phương pháp loại bỏ các doanh nghiệp bị khuyết dữ liệu có thể tạo ra độ lệch chọn mẫu nhất định đối với các doanh nghiệp gặp gián đoạn thông tin công bố.
- Thước đo hiệu quả: Đề tài tập trung vào hai chỉ số sinh lời dựa trên kết quả kế toán quá khứ (ROA và ROE), chưa tích hợp các biến phản ánh giá trị thị trường dài hạn như Tobin’s Q hay hệ số giá trên thu nhập (P/E).
- Thước đo biến độc lập: Biến thành viên độc lập HĐQT (IND) mới phản ánh tỷ lệ số lượng mang tính cơ học, chưa đo lường sâu các yếu tố định tính như số năm nhiệm kỳ thực tế, mạng lưới liên kết bên ngoài hoặc mức độ chuyên trách tại các tiểu ban chuyên môn (tiểu ban kiểm toán, tiểu ban lương thưởng).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các định chế tài chính và ngân hàng với mô hình đo lường rủi ro đặc thù.
- Bổ sung biến phụ thuộc đại diện cho giá trị thị trường (Tobin's Q) nhằm so sánh sự khác biệt giữa hiệu quả kế toán ngắn hạn và kỳ vọng của nhà đầu tư.
- Khảo sát sâu hơn các biến định tính về hành vi, tần suất tham gia biểu quyết và trình độ chuyên môn của các thành viên độc lập trong HĐQT.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Quản trị kinh doanh và Tài chính doanh nghiệp đang thực hiện khóa luận, luận văn về quản trị công ty (Corporate Governance) và phân tích báo cáo tài chính.
- Các nhà nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng: Phần phương pháp nghiên cứu tại Chương 2 cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình hồi quy dữ liệu bảng (panel data) trên phần mềm Stata, từ các kiểm định lựa chọn mô hình (F-test, Hausman test) đến việc phát hiện khuyết tật (Wald, Wooldridge) và kỹ thuật hồi quy iFGLS.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách: Khung pháp lý và bảng mã hóa biến giúp các doanh nghiệp niêm yết có căn cứ chuẩn hóa cơ cấu thành viên HĐQT phù hợp với Luật Doanh nghiệp 2020 và các thông lệ quản trị quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu nghiên cứu của khóa luận được lựa chọn dựa trên những tiêu chí nào?
Mẫu nghiên cứu gồm 441 công ty niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX trong 8 năm (2015 – 2022), tạo thành 3.528 quan sát. Mẫu chỉ chọn các doanh nghiệp phi tài chính và loại bỏ toàn bộ các ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư do tính chất hoạt động và quy chế pháp lý đặc thù. Đồng thời, các công ty bị khuyết dữ liệu trong giai đoạn khảo sát cũng bị loại để đảm bảo tính cân bằng của dữ liệu bảng.
2. Biến độc lập và hai biến phụ thuộc trong mô hình được tính toán bằng công thức nào?
Biến độc lập là tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT (IND), được tính bằng: Số lượng thành viên độc lập trong HĐQT / Tổng số thành viên HĐQT. Hai biến phụ thuộc đo lường hiệu quả hoạt động là: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản) và Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu).
3. Khóa luận sử dụng những biến kiểm soát nào để tránh sai lệch do bỏ sót biến?
Mô hình đưa vào 6 biến kiểm soát thuộc hai nhóm:
- Nhóm đặc trưng HĐQT: Sự kiêm nhiệm của CEO (DUAL - biến giả nhận 1 nếu CEO kiêm Chủ tịch HĐQT, nhận 0 nếu tách biệt); Quy mô HĐQT (Bsize - tổng số thành viên HĐQT); Tỷ lệ thành viên nữ HĐQT (FEM); Kinh nghiệm HĐQT (EXP - độ tuổi trung bình các thành viên HĐQT).
- Nhóm đặc trưng doanh nghiệp: Quy mô công ty (Fsize - logarit tự nhiên của tổng tài sản); Cơ cấu vốn (LEV - tổng nợ phải trả / tổng tài sản).
4. Ba lý thuyết nền tảng nào được tác giả sử dụng để giải thích mối quan hệ giữa thành viên độc lập HĐQT và hiệu quả công ty?
Tác giả dựa trên ba lý thuyết: Lý thuyết người đại diện (Agency Theory) nhấn mạnh vai trò giám sát của thành viên độc lập nhằm giảm xung đột lợi ích giữa cổ đông và ban điều hành; Lý thuyết quản lý (Stewardship Theory) cho rằng nhà quản lý tận tâm vì tổ chức nên sự giám sát độc lập bên ngoài có thể không mang lại lợi thế vượt trội bằng quyền điều hành tập trung; Lý thuyết ràng buộc nguồn lực (Resource Dependency Theory) nhìn nhận thành viên độc lập như cầu nối mang lại thông tin, nguồn lực và quan hệ từ môi trường bên ngoài cho công ty.
5. Vì sao tác giả phải sử dụng phương pháp hồi quy iFGLS thay vì chỉ sử dụng Pooled OLS, FEM hoặc REM?
Khi kiểm định mô hình dữ liệu bảng bằng kiểm định Wald và kiểm định Wooldridge, dữ liệu xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan chuỗi. Những khuyết tật này khiến các ước lượng sai số chuẩn của Pooled OLS, FEM hay REM bị chệch và không còn hiệu quả. Do đó, phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi lặp lại (iFGLS) được sử dụng để khắc phục hoàn toàn hai khuyết tật trên, mang lại các hệ số ước lượng tin cậy.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ là công trình nghiên cứu định lượng thực nghiệm có hệ thống về tác động của thành viên độc lập HĐQT tới hiệu quả hoạt động của 441 công ty phi tài chính niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2015 – 2022. Đề tài đã xây dựng cơ sở lý luận đa chiều dựa trên ba lý thuyết quản trị nền tảng, đối chiếu với khung pháp lý của Luật Doanh nghiệp 2020 và các thông lệ quản trị quốc tế. Quy trình xử lý dữ liệu bảng được thực hiện chuẩn mực thông qua việc kiểm tra khuyết tật mô hình và ứng dụng kỹ thuật hồi quy iFGLS nhằm đảm bảo tính vững của các ước lượng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật và giá trị thực tiễn cho các doanh nghiệp niêm yết trong việc kiện toàn bộ máy HĐQT và nâng cao hiệu quả quản trị công ty.