Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thảo luận về kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và các kiến nghị CHUONG 1. TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tài liệu Mối quan hệ giữa các đặc trưng của HĐQT nói chung và tính độc lập HĐQT nói riêng với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết luôn nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu trong nước và quôc tê. Nghiên cứu trong nước Năm 2022, Nguyễn Văn Chiến và Trần Mạnh Dũng đã thực hiện nghiên cứu đánh giá sự tham gia của thành viên độc lập trong hội đồng quản trị đến hiệu quả tài chính của 48 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 đến 2020.
Nhóm tác giả đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp thông qua 3 nhân tố: tỷ SỐ lợi nhuận ròng trên tổng tài san (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS). Bằng cách sử dụng các phương pháp như hồi quy bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS), phương pháp tác động cô định (FEM), tác động ngẫu nhiên (REM), và phương pháp bình phương tối thiểu, nghiên cứu đã loại bỏ các khuyết tật có thê xảy ra trong quá trình ước lượng. Kết quả của nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa sự tham gia của các thành viên độc lập trong hội đồng quản trị và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Điều này cho thấy sự tham gia của các thành viên độc lập trong hội đồng quản tri tai các công ty Việt Nam chưa đạt hiệu quả thực sự.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quy mô của HĐQT có tác động tích cực; cau trúc vốn có tác động tiêu cực lên hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (ROE, EPS). Mối quan hệ giữa tính thanh khoản, quy mô của doanh nghiệp và hiệu quả tài chính là không rõ ràng. Tiếp cận dé tài bằng một phương pháp khác — phương pháp hồi quy tổng quát GMM, Nguyễn Thị Thu Thủy và Nguyễn Văn Thuận (2021) đã nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam vào giai đoạn 2008 — 2018 thông qua chỉ số xác định giá tri thị trường của doanh nghiệp - Tobin’s Q. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quyền kiêm nhiệm và quy mô ban kiểm soát có ảnh hưởng thuận chiều tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; trong khi thành viên độc lập HĐQT thé hiện tác động ngược chiều.
Các biến nữ CEO, quy mô HĐQT, sở hữu tập trung, tudi và quy mô của công ty không có tác động tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Phạm Minh Vương và cộng sự (2021) đã sử dụng hai công cụ: ROA và Tobin’s Q dé phân tích sự ảnh hưởng của đặc điểm hội đồng quan trị tới hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Kết quả ước lượng Neway chỉ ra rằng thái độ chấp nhận rủi ro có quan hệ cùng chiều với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp (ROA). Mối quan hệ này cũng được tìm thấy giữa sự hiện diện của thành viên nữ trong HDQT và Tobin’s Q hay sự góp mặt của thành viên nữ trong HĐQT có tác động cùng chiều tới hiệu quả doanh nghiệp đưới góc nhìn của thị trường.
Cũng từ góc nhìn này, sự kiêm nhiệm được cho là có ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả tài chính của công ty. Không có bang chứng chỉ ra mối quan hệ giữa quy mô, tần suất các cuộc họp và thành viên độc lập của HĐQT với hiệu quả tài chính từ kêt quả của nghiên cứu này. Sử dụng mô hình có tác động ngẫu nhiên (REM) và phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS), Chu Thị Thu Thủy (2020) đã nghiên cứu và chỉ ra các nhân tố thuộc đặc trưng của HDQT đến hiệu quả tài chính (được đo lường bằng chỉ số ROA) của các công ty niêm yết tại Việt Nam như sau: sự kiêm nhiệm của CEO và quy mô HĐQT (tác động cùng chiều); số lượng các cuộc họp HĐQT (tác động ngược chiều). Nghiên cứu không tìm thay bằng chứng đủ dé kết luận về mối quan hệ giữa sự đa dạng giới tính của HĐQT và hiệu quả tài chính của công ty.
Ngoài ra, thành viên độc lập HĐQT cũng được chỉ ra rằng không có tương quan với ROA khi không có sự xuất hiện của biến điều tiết— quy mô HĐQT. Khi có biến điều tiết, nhân tố này thể hiện tác động ngược chiều tới hiệu quả tài chính của công ty. Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014) đã sử dụng hai chỉ số ROA và ROE đóng vai trò là biến phụ thuộc dé nghiên cứu tác động của các yếu tô thuộc quản trị doanh nghiệp tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của 217 công ty sau cổ phan hóa ở Việt Nam trong thời gian 2012 — 2017. Nhóm tác gia đã thực hiện hồi quy dit liệu bang theo 3 phương pháp (Pooled OLS, FEM, REM) quen thuộc.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: sự độc lập của HĐQT, quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng của tài sản có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh đo bằng cả hai thước đo (ROA và ROE); kinh nghiệm của HĐQT ảnh hưởng ngược chiều tới ROA và ROE. Sở hữu của HĐQT có mối quan hệ âm với ROE nhưng lại có tác động không có ý nghĩa thống cơ đến ROA. Ngoài ra, nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ với hiệu quả kinh doanh của các nhân tố: sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT, quy mô HĐQT và trình độ học vấn của các thành viên trong Hội đồng. Nghiên cứu nước ngoài Elisa Fajarwati & Rini Setyo Witiastuti (2022) đã nghiên cứu ảnh hưởng cua các đặc điểm HĐQT bao gồm: quy mô HĐQT, thành viên HĐQT độc lập, tần suất họp HĐQT và thành viên HDQT nữ đến hiệu quả hoạt động (ROA) của các công ty sản xuất được niêm yết tại Indonesia và Malaysia trong năm 2015 — 2019.
Kết quả mô hình tác động ngẫu nhiên đã chỉ ra những điểm tương đồng và khắc biệt trong két qua của các môi liên hệ này giữa hai thị trường được xem xét. O cả hai thị trường, quy mô hội đồng quản tri và tần suất họp hội đồng quản trị đều có tác động tích cực dang ké đến hiệu quả hoạt động của các công ty. Sự xuất hiện của các thành viên nữ trong HĐQT có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty ở Indonesia nhưng lại có tác động trái ngược hoàn toàn đối với các công ty tại Malaysia. Trong khi đó, thành viên độc lập HĐQT có tác động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động của công ty ở Malaysia, nhưng có tác động ngược chiều đối với các doanh nghiệp niêm yết tại Indonesia.
Khác biệt này được cho là do các quy định do Sở giao dịch chứng khoán Indonesia đặt ra, do đó khiến các thành viên độc lập không tham gia nhiều vào việc ra quyết định do có những hạn chế. Zhou và cộng sự (2018) đã chỉ ra mối tương quan giữa các đặc điểm HĐQT, ủy ban kiểm toán và hiệu quả hoạt động (ROA) của các công ty niêm yết tại Hy Lạp giai đoạn 2008 — 2012 bằng phương pháp bình phương tối thiểu OLS và 2SLS như sau: quy mô HĐQT, tính thanh khoản, cường độ sử dụng vốn và biên lợi nhuận hoạt động có ảnh hưởng tích cực tới ROA; trong khi thành viên độc lập HĐQT thé hiện tác động tiêu cực lên hiệu quả hoạt động của công ty. Điều này được lý giải là bởi vì các thành viên HĐQT bên ngoài không hiểu rõ về tình hình hoạt động, điều hành bên trong công ty nên những đóng góp của họ chưa mang lại giá tri đáng ké cho công ty. Bên cạnh đó, trong các tình huống phát sinh, thì ý kiến tư van đóng góp của các thành viên trong hội đồng sẽ có giá trị đóng góp nhiều hơn vai trò giám sát của các thành viên độc lập.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở Hy Lạp, các công ty có HĐQT nhỏ và tính độc lập cao hơn sẽ có xu hướng thành lập ủy ban kiểm toán cao hơn. Tuy nhiên, hầu như không có sự liên hệ nào giữa ủy ban kiểm toán và hiệu quả hoạt động ở những công ty này. Bravo (2017) đã tìm hiểu mối quan hệ giữa các thành viên độc lập HĐQT và hiệu quả hoạt động của 694 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York dưới tác động của số nhiệm kỳ và sự đa nhiệm của họ. Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh hậu SOX ở Hoa Kỳ (Đạo luật Sarbanes — Oxley, 2002), do vậy, như một lẽ tất yếu, kết qua khang định các thành viên độc lập có mối quan hệ tích cực tới hiệu quả hoạt động.
Trong khoảng thời gian đó, không chỉ SOX mà cả các tiêu chuẩn niêm yết cũng đặt ra trách nhiệm mạnh mẽ hơn liên quan đến các giám đốc độc lập và do đó, những giám đốc này có thể gắn bó hơn với các công ty. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ID có nhiệm kỳ ngan trong công ty không có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của công ty. Những thành viên này cần khoảng sáu năm để có những đóng góp giúp cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy răng ảnh hưởng của các thành viên độc lập đến hiệu quả hoạt động của công ty là không tích cực khi họ tham gia hơn hai HĐQT bên ngoài.
Makhlouf và cộng sự (2017) áp dụng 3 phương pháp hồi quy bội phổ biến cho dữ liệu bảng: Pooled OLS, FEM, REM dé nghiên cứu mối quan hệ giữa HĐQT và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết tại Jordan. Kết quả chỉ ra mối quan hệ dương giữa sự độc lập và sở hữu của HĐỌT tới hiệu quả hoạt động của công ty. Ngoài ra, các công ty có quy mô HĐQT càng nhỏ thì hiệu quả hoạt động đạt được càng cao. Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm quản lý và tần suất các cuộc họp của HĐQT với hiệu quả hoạt động của công ty.
Nghiên cứu về mối liên hệ giữa thành viên độc lập HĐQT và hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại hai Sở giao dịch Thượng Hải và Thâm Quyến (Trung Quốc), Yu Liu và cộng sự (2015) đã đặc biệt xem xét tác động của hai yếu tố: sở hữu công ty và chi phí giám sát, thu thập thông tin trong mối quan hệ này.