Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương này sẽ giới thiệu tổng quát về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, góp phần xây dựng về mặt lý thuyết và thực tiễn của đề tài cũng như kết cấu khóa luận của đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Chương này sẽ trình bày về các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu, dựa trên các nghiên cứu trước đây của các học giả tại nước ngoài và Việt Nam. Chương này cũng sẽ chỉ ra những điểm mới, điểm khác biệt và khoảng trống tri thức của đề tài so với các nghiên cứu trước đây, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm định cho chương tiếp theo. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày về giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, phương pháp xác định biến, dữ liệu và trình tự xử lý dữ liệu như phương pháp phân tích và kiểm định giả thuyết.
Chương này sẽ nêu các tiêu chí đánh giá để lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp và các giả định cần thỏa mãn. 6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này sẽ trình bày và thảo luận về các kết quả phân tích dữ liệu gồm: thống kê mô tả mẫu biến, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, mô hình hồi quy (Pooled OLS, FEM và REM), kiểm định hiện tượng tự tương quan, kiểm định phương sai thay đổi và mô hình hồi quy tổng quát bình phương tối thiểu (FGLS). Chương này sẽ so sánh và đánh giá tác động của IC và thành phần của nó đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu, kết luận về đề tài.
Qua đó, tác giả đề xuất một vài khuyến nghị để sử dụng hiệu quả vốn trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Chương này cũng nêu ra những điểm hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài trong tương lai. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Vốn trí tuệ 2.
Khái niệm Vào cuối thế kỉ XX, chủ đề về nghiên cứu vốn trí tuệ (IC) nhận được rất nhiều sự quan tâm đến từ các học giả, cùng với đó nhiều định nghĩa khác nhau về vốn trí tuệ (IC) được ra đời. Vào năm 1997, Edvinsson cho rằng vốn trí tuệ là những nguồn lực vô hình giúp tạo ra những giá trị tăng thêm cho doanh nghiệp như kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc, công nghệ thông tin, quan hệ với khách hàng và nhà cung cấp. Annie Brooking (1997) xem vốn trí tuệ là sự kết hợp của thành phần chính là tài sản thị trường, nguồn nhân lực, sở hữu trí tuệ và cơ sở hạ tầng. Tương tự, nghiên cứu của Stewart (1997) nhận định rằng vốn trí tuệ (IC) là những vật chất trí tuệ bao gồm kiến thức, thông tin, quyền sở hữu trí tuệ, kinh nghiệm có thể xây dựng nên giá trị cho một doanh nghiệp.
Harrison và Sullivan (2000) xem IC là nguồn tri thức có thể biến đổi tạo thành lợi nhuận. Pulic và Kolakovic (2003) đã định nghĩa vốn trí tuệ là các kỹ năng, kiến thức và phương pháp mới lạ có thể chuyển đổi thành năng suất, giá trị trên thị trường, giúp doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, vốn trí tuệ phổ biến nhất với tên gọi “tài sản vô hình”. Brooking (1998) xem IC là các tài sản vô hình dùng để vận hàng trong công ty.
Cùng với quan điểm trên, Bontis (1998) xem IC là tập hợp các nguồn lực vô hình trong doanh nghiệp. Theo Muhammad Nadeem (2016) thì vốn trí tuệ là tổng tài sản vô hình duy nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng của nhân viên, quy trình không thể bắt trước và mối quan hệ với đối tác. Theo góc nhìn kế toán thì vốn trí tuệ (IC) là khoảng chênh lệch giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách của một công ty. Maditinos và cộng sự (2011) xem vốn trí tuệ là tài sản vô hình nên khó để xác định đóng góp của nó trên báo cáo tài chính.
8 Theo chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 38 (IAS 38) thì các doanh nghiệp có thể xem đó là một tài sản vô hình khi thoả ba điều kiện như sau: có thể nhận dạng được, kiểm soát và mang đến những lợi ích kinh tế trong tương lai. Tuy nhiên, khái niệm về IC của Hiệp hội Kế toán quản trị công chứng Anh Quốc (CIMA) được nhận xét là toàn diện và được rất nhiều học giả sử dụng để nghiên cứu. Thông qua nhận định của những tiền nghiên cứu, vốn trí tuệ thuộc nhóm tài sản vô hình của doanh nghiệp không chỉ bao gồm các tài sản trí tuệ như bằng sáng chế, thương hiệu và bí mật kinh doanh, mà còn là các nguồn lực thể hiện qua kiến thức, con người, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ, đánh giá từ khách hàng đã góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Lý thuyết liên quan về vốn trí tuệ • Lý thuyết dựa trên nguồn lực Lý thuyết dựa trên nguồn lực được xem là lý thuyết tiên phong tập trung vào tầm quan trọng của các tài sản vô hình đối với doanh nghiệp (Barney, 1991).
Wernerfelt (1984) cho rằng các khái niệm truyền thống của chiến lược được phân tích định vị nguồn lực (điểm mạnh và điểm yếu) của doanh nghiệp; trong khi, hầu hết các công cụ kinh tế chính thống có xu hướng điều khiển thị trường. Barney (1991) lập luận rằng công ty là tập hợp những tài sản vật chất, nguồn nhân lực và nguồn lực tổ chức. Ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp bắt nguồn từ nguồn lực mà doanh nghiệp đó sở hữu (Grant, 1991; Barney ,1991). Những tài sản vô hình được hiểu là duy nhất, không thể sao chép được và là chìa khóa mở ra cánh cửa phát triển trường tồn cho doanh nghiệp.
Lý thuyết cho rằng hiệu quả hoạt động của các nguồn lực hữu hình và vô hình tồn tại phụ thuộc vào nhau cũng như xuất hiện ở các doanh nghiệp. Do đó, để xây dựng lợi thế phát triển của mình, các nhà quản lý cần chú trọng vào các giá trị, kiến thức, năng lực của nhân viên cũng như quy trình sản xuất của doanh nghiệp. 9 • Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực Một doanh nghiệp không thể nắm giữ hết tất cả các nguồn lực chiến lược vì thế cần mối quan hệ phụ thuộc tương hỗ giữa các doanh nghiệp để hỗ trợ các nguồn lực cần thiết. Selznick (1948) lập luận rằng một doanh nghiệp hiện đại phức tạp luôn hoạt động trong thị trường có nhiều biến động, do đó thường xuyên đòi hỏi sự liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác.
Vì vậy, cấu trúc bên trong của doanh nghiệp được xây dựng và phát triển dựa trên các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với khách hàng. Ngoài ra, lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng khi sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực sẽ giúp các doanh nghiệp dễ dàng xây dựng các mối quan hệ với các bên liên quan. Abeysekera (2010) cho rằng xây dựng mối quan hệ hiệu quả giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài chỉ khi doanh nghiệp có được các nguồn lực bên trong hiệu quả như vốn con người và môi trường học tập. Qua đó, yếu tố liên quan đến lý thuyết phụ thuộc nguồn lực là vốn con người và vốn quan hệ.
• Lý thuyết tổ chức học tập Lý thuyết nhận định rằng các doanh nghiệp nên tuân theo một quá trình trau dồi, học hỏi liên tục để xây dựng lợi thế cạnh tranh lâu dài. Nhờ vào quá trình học hỏi không ngừng từ các bên liên quan về công nghệ mới, năng lực lãnh đạo, quy trình sản xuất,. doanh nghiệp sẽ mang lại những những kiến thức cần thiết để tạo ta những sản phẩm mới và dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Njuguna (2009) xem tổ chức học tập là quá trình học tập để doanh nghiệp tiếp thu được lượng kiến thức mới qua đó chuyển hóa thành quy trình, mô hình và bản quyền.
Các nguồn lực như quy trình sản xuất, mô hình, bản quyền thương hiệu và sản phẩm là nguồn lực mở ra ưu thế phát triển mạnh mẽ cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, những nguồn lực này được nhiều nhà nghiên cứu gọi với thuật ngữ là vốn cấu trúc. Dựa vào lý thuyết tổ chức học tập, tác giả nhận thấy được vai trò quan trọng của vốn cấu trúc đối với doanh nghiệp nên sẽ sử dụng vốn cấu trúc như một thành phần quan trọng của vốn trí tuệ. Thành phần vốn trí tuệ Kamath (2007) cho rằng IC được các học giả phân loại theo các thành phần khác nhau.
Dựa vào các lý thuyết liên quan về vốn trí tuệ (IC) được trình bày ở mục 2.2, tác giả phân loại vốn trí tuệ bao gồm vốn con người (Human Capital), vốn cấu trúc (Structural Capital) và vốn quan hệ (Relational Capital). • Vốn con người (Human Capital – HC) Vốn con người được xem là những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn, năng lực làm việc của nhân viên trong doanh nghiệp được dùng để mang lại các lợi ích cho công ty như thúc đẩy quá trình sản xuất, hoàn thành các mục tiêu chiến lược và gia tăng hiệu quả hoạt động (Edvinsson và Malone, 1997; Stewart, 1997). Nghiên cứu của Pulic (2000) khẳng định vai trò quan trọng của chất lượng nhân viên và việc đầu tư chi phí cho nhân viên là điều cần thiết vì nó sẽ tạo nên giá trị bền vững cho doanh nghiệp. Wright (1994) cho rằng doanh nghiệp có thể đạt được những lợi thế cạnh tranh thông qua vốn con người và có thể tận dụng các nguồn lực sẵn có để hoạch định các chiến lược phát triển phù hợp trong tương lai.
Tài nguyên nhân sự là nguồn lực vô hạn không chỉ đóng vai trò mấu chốt trong việc nâng cao năng suất mà còn là nhân tố mấu chốt giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu và thúc đẩy vị thế của mình trên thương trường. Chính vì thế, sự trau dồi và học hỏi không ngừng của nguồn nhân lực sẽ tạo nên sự khác biệt ở mỗi doanh nghiệp và khó có thể sao chép. • Vốn cấu trúc (Structural Capital – SC) Vốn cấu trúc bao gồm các chính sách, thủ tục, quy trình, cơ sở dữ liệu, chiến lược kinh doanh, tổ chức quản lý và các cơ sở vật chất khác cho phép nguồn nhân lực hoạt động hiệu quả bằng cách sử dụng tri thức và kinh nghiệm sẵn có của nhân viên để tạo ra của cải (Hobley và Kerrin, 2004).