Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Aziz và cs (2015) đã điều tra mối quan hệ giữa Thái độ, Chuẩn mực chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Nhận thức rủi ro và Ý định tham gia mô hình Nông nghiệp Takaful. Nghiên cứu đã khảo sát 120 nông dân trồng lúa ở Selangor và Kedah, Malaysia.
Các phương pháp tương quan Pearson, phân tích nhân tố EFA và hồi quy đa biến đã được sử dụng nhằm phân tích dữ liệu. Kết quả cho thấy, ý định tham gia vào mô hình Nông nghiệp Takaful của nông dân Malaysia chịu tác động bởi Thái độ, Chuẩn mực chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi, Nhận thức rủi ro. Trong đó, Nhận thức rủi ro có tác động mạnh nhất. Kết quả cung cấp thông tin cho các bộ ngành liên quan và các nhà hoạch định chính sách dé hoàn thiện kế hoạch Nông nghiệp Takaful.
Hou và cs (2020) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia hợp đồng sản xuất trong chuỗi cung ứng nông sản tại Trung Quốc. Nghiên cứu đã khảo sát 118 nông dân trồng táo và 117 nông dân trồng lê tại các quận huyện của tỉnh An Huy và tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Phương pháp kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha và mô hình Probit được sử dụng dụng nhằm kiểm tra ảnh hưởng của thái độ rủi ro và các yếu tổ khác ảnh hưởng đến việc tham gia hợp đồng sản xuất trong chuỗi cung ứng nông sản. Kết quả cho thấy, việc tham gia hợp đồng bị ảnh hưởng mạnh bởi thái độ rủi ro của nông dân.
Ngoài ra, các yếu tố Ác cảm mat mát, giá, tiền thưởng, tuổi, kinh nghiệm và vị trí có ảnh hưởng đến việc tham gia hợp đồng sản xuất trong chuỗi cung ứng nông sản. Rondhi và cs (2020) đã nghiên cứu các yêu tô ảnh hưởng đến sự tham gia của nông dân vào nuôi gà thịt theo hợp đồng ở Indonesia. Nghiên cứu đã khảo sát 1.142 nông dân nuôi gà thịt phân bố tại 20 tỉnh của Indonesia. Hồi quy binary logistic được sử dụng dé phân tích các yếu tố có kha năng ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp đồng của nông dân.
Kết quả cho thấy 06 yếu tố có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đối với quyết định tham gia hợp đồng nuôi gà thịt của nông dân là Giáo dục, quy mô đất đai, nhân khâu, nhóm nông dân và khuyến nông. Kết quả cho thay các nhóm nông dân và dịch vụ khuyến nông cho nông dân quy mô nhỏ hứa hen sẽ cải thiện sự tham gia của họ vào hợp đồng nuôi gà thịt. Nghiên cứu trong nước Nguyễn Dinh Phúc và cs (2017) đã nghiên cứu các yêu tô ảnh hưởng đến khả năng tham gia mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ mía nguyên liệu của các hộ trồng mía với công ty mía đường nhiệt điện Gia Lai. Qua dit liệu khảo sát 100 hộ, bao gồm 65 hộ liên kết sản xuất — tiêu thụ và 35 hộ không liên kết sản xuất — tiêu thụ đại diện cho toàn vùng nghiên cứu, hoạt động sản xuất mía hàng năm trên địa bàn tỉnh Gia Lai đều đem lại lợi nhuận cho các nông hộ trồng mía.
Mía nguyên liệu được xem là cây trồng chủ lực trong sản xuất nông nghiệp của địa phương. Năng suất và lợi nhuận mía của nông hộ có tham gia mô hình liên kết với nhà máy đường cao hơn những hộ không tham gia mô hình liên kết. Bằng phân tích định lượng mô hình hồi quy Logit, nghiên cứu cũng đã chỉ ra 4 yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quyết định khả năng tham gia mô hình liên kết của các hộ trồng mía như: vốn (95,38%), khuyên nông (94,98%), kinh nghiệm (65,27%), diện tích (61,09%). Dựa vào kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển mô hình liên kết trong sản xuất và tiệu thụ mía nguyên liệu hiệu quả hơn.
Nghiên cứu của Phạm Thị Thuyền va cs (2020) đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp đồng liên kết trong sản xuất lúa của nông hộ tại tỉnh An Giang. Phương pháp thống kê mô tả, kiểm định trị trung bình T-test và hồi quy Binary logistic được sử dụng với số liệu phỏng vấn 211 nông hộ tham gia va không tham gia hợp đồng trên địa bàn hai huyện Thoại Sơn và Châu Thành, An Giang. Kết quả so sánh trị trung bình cho thấy có sự khác biệt giữa hai nhóm tham gia và không tham gia hợp đồng ở những đặc tính như diện tích canh tác lúa, tỷ lệ thu nhập từ lúa trên tổng thu nhập, mức độ tham gia khuyến nông, hợp tác xã tại mức ý nghĩa thống kê 1% và 5%. Kết xuất hồi quy đã chỉ ra các yếu tố diện tích canh tác, tham gia hợp tác xã, khuyến nông và niềm tin với đối tác thu mua có ảnh hưởng tích cực đến quyết định tham gia hợp đồng liên kết.
Tuy nhiên, cơ chế thanh toán chậm, trì hoãn của doanh nghiệp cản trợ động lực tham gia vào hợp đồng của nông hộ. Những phát hiện của nghiên cứu cung cấp sự hiểu biết hữu ích cho các nhà sản xuất, nhà hoạch định chính sách nhằm thúc đây tính toàn điện của hợp đồng liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ lúa gạo. Lê Thị Kim Oanh và cs (2021) đã nghiên cứu các yếu tô ảnh hưởng đến ý định liên kết của hộ sản xuất rau an toàn với doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Nghiên cứu khảo 105 hộ sản xuất rau an toàn trên địa bản.
Nghiên cứu sử dụng các yếu tố trong mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch. Phương pháp phân tích nhân tổ EFA va phân tích phương sai được sử dụng nhằm tìm ra các nhân té ảnh hưởng và so sánh ý định liên kết giữa các nhóm có quy mô khác nhau. Kết quả đã chỉ ra rằng các nhân tố Thái độ, Chuan chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và quy mô sản xuất có ảnh hưởng tới ý định liên kết của hộ với doanh nghiệp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất những giải pháp nhằm thúc đây ý định liên kết của hộ sản xuất rau an toản với doanh nghiệp.
Dinh Phi Hồ và cs (2021) đã nghiên cứu các yếu té ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác xã của nông dân trồng lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long. Dựa vào khung lý thuyết kinh tế học và thực tiễn Việt Nam, nghiên cứu đã khảo sát 450 hộ nông dân trồng lúa ở tỉnh An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và sử dụng phân tích hồi quy Binary Logistic. Kết quả cho thấy các yếu tô ảnh hưởng bao gồm: Giới tính chủ hộ; Khoảng cách từ hợp tác xã đến chợ trung tâm gần nhất; Mức độ tiếp xúc với cán bộ khuyến nông; Khả năng tiếp cận tín dụng; Diện tích đất lúa; Cảm nhận lợi ích dem lại; Trình độ học vấn; Chính sách hỗ tro; Tuổi chủ hộ có ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác xã của nông dân trồng lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đã đề xuất hàm ý đề nâng cao khả năng hộ nông dân tham gia HTX.
Nguyễn Thị Ngân Ha và Nguyễn Thi Kim Quyên (2022) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia liên kết sản xuất của nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) theo mô hình thâm canh tại tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu khảo sát 75 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng tham gia liên kết và 44 hộ nuôi riêng lẻ tại tỉnh Sóc Trăng. Kết quả hồi quy nhị phân Binary Logistics cho thấy có 9 biến ảnh hưởng đến quyết định tham gia liên kết, bao gồm: Diện tích nuôi, Nuôi theo chứng nhận, Mật độ nuôi, Giá bán, Khoảng cách địa lý, Tỷ lệ thu nhập từ tom/téng thu nhập, Vay vốn và Số lần tham gia tập huấn làm tăng xác suất tham gia liên kết và biến Lợi nhuận làm giảm xác suất tham gia liên kết. Các tô chức liên kết sản xuất có vai trò quan trọng trong việc liên kết sản xuất, tô chức tập huấn, vay vốn ưu đãi và tạo điều kiện áp dụng các tiêu chuẩn chứng nhận.
Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp về tổ chức và phát triển nhằm phát triển các mối liên kết sản xuất rộng rãi và hiệu quả hơn. Bùi Thị Minh Hà va cs (2022) đã phân tích các yếu tô ảnh hưởng đến sự tham gia liên kết của nông dân sản xuất chè hữu cơ tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Số liệu được thu thập tại xã Tức Tranh, là địa bàn có diện tích chè hữu cơ lớn nhất của huyện Phú Lương. Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 79 hộ đang sản xuất chè theo qui trình hữu cơ trên địa bàn xã.
Thực hiện thảo luận nhóm với l6 người am hiểu về sản xuất chè liên kết là những nông dân nòng cốt và đại diện doanh nghiệp cùng 7 cán bộ tại địa phương. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP (Analytic Hierarchy Process), qua đó đã xác định được 7 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia liên kết của nông dân với doanh nghiệp bao gồm: (1) Việc thực hiện qui trình sản xuất; (2) Tiếp cận vật tư cho sản xuất; (3) Nhân lực cho sản xuất; (4) Diện tích đất canh tác chè; (5) Thị trường tiêu thụ sản pham; (6) Giá thu mua sản phẩm và (7) Uy tin của doanh nghiệp. Trong đó “Giá thu mua sản phâm” và “Việc thực hiện qui trình sản xuât” là hai yêu tô có ý nghĩa quyêt định trong việc tham gia vào liên kết của nông dân với doanh nghiệp trong sản xuất chè hữu cơ. Nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị để nông dân sẵn sàng tham gia liên kết sản xuất chè hữu cơ, doanh nghiệp cần phải đảm bảo thị trường tiêu thụ 6n định, bảo đảm lợi ích cho người trồng chè, đồng thời phải tạo được lòng tin của nông dân với doanh nghiệp.
Trần Duy Tắn (2022) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia sản xuất kinh doanh trong hợp tác xã nông nghiệp của người nông dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Nghiên cứu đã phân tích thực trạng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong hợp tác xã nông nghiệp của huyện Vĩnh Thạnh; Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định, tham gia sản xuất kinh doanh trong hợp tác xã của người nông dân huyện Vĩnh Thạnh; Mức độ ảnh hưởng, của từng nhân tố đến ý định tham gia sản xuất kinh doanh trong hợp tác xã của người nông dân huyện Vĩnh Thạnh.