MỞ ĐẦU Chƣơng 1: HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NHTM Chƣơng 2: THỰC TRẠNG RỦI RO HOẠT ĐÔNG BẢO LÃNH CỦA MB - CHI NHÁNH LÊ TRONG TẤN GIAI ĐOẠN 2016-2018 Chƣơng 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA MB LÊ TRỌNG TẤN KẾT LUẬN 6 CHƢƠNG 1 HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NHTM 1. Ngân hàng thƣơng mại và hoạt động bảo lãnh của NHTM 1. Đặc điểm NHTM và các hình thức tín dụng của NHTM Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh tiền tệ, với nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ liên quan đến lĩnh vực tài chính – ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm của NHTM - Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính tiền tệ; - Sản phẩm mang tính dịch vụ, gắn liền với phân phối và sử dụng vốn, tư vấn tài chính; - Hoạt động phụ thuộc nhiều vào long tin và tín nhiệm khách hàng; - Hoạt động kinh doanh có nhiều rủi ro tiềm ẩn; - Hoạt động kinh doanh mang tính hệ thống, chịu ảnh hưởng dây chuyền lẫn nhau. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06 năm 2010: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; 7 c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Tại Luật này cũng đã định nghĩa cụ thể 3 nghiệp vụ trên như sau: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận” “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Đặc điểm và mục tiêu hoạt động bảo lãnh của NHTM 1.
Đặc điểm hoạt động bảo lãnh của NHTM Theo Thông tư 07/2015/TT-NHNN Quy định về bảo lãnh ngân hàng: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh” Theo Giáo trình Tín dụng ngân hàng (PGS. Tô Ngọc Hưng, 2014): “Hoạt động bảo lãnh ngân hàng là một dịch vụ ngân hàng, theo đó, ngân hàng thương mại sử dụng uy tín và sức mạnh tài chính của mình cam kết với bên nhận bảo lãnh để bảo lãnh cho bên được bảo lãnh thực hiện một nghĩa vụ đã được quy định từ trước. Ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm trả tiền theo yêu cầu của bên nhận bảo lãnh khi điều kiện quy định trong cam kết bảo lãnh được đáp ứng” Như vậy có thể định nghĩa: Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản 8 của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
Bảo lãnh ngân hàng có những đăc điểm sau: Một là, bảo lãnh là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau. Điều này được thể hiện qua sơ đồ sau: Ngân hàng bảo lãnh (2) (3) Người yêu cầu bảo lãnh (1) Người thụ hưởng bảo lãnh (1) Mối quan hệ gốc, hợp đồng gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh (2) Mối quan hệ giữa người xin bảo lãnh và ngân hàng phát hành thư bảo lãnh, trong đó người xin bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho đối tác trong hợp đồng thụ hưởng. (3) Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và người thụ hưởng. Khi hợp đồng bị vi phạm, ngân hàng bồi thường cho người thụ hưởng.
Hai là, bảo lãnh có tính độc lập. Các bên trong từng hợp đồng có quyền và nghĩa vụ riêng.Tính độc lập của bảo lãnh thể hiện ở nghĩa vụ của người ủy nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người bảo lãnh và quyền của người hưởng lợi qua các điều khoản của bảo lãnh. Ba là, Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng. Khi phát hành thư bảo lãnh, ngân hàng chưa phải xuất tiền ngay, mà chỉ khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ của mình thì bên bảo lãnh mới phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Tuy nhiên để theo dõi và quản lý rủi ro thì nghiệp vụ bảo lãnh được đưa ra ngoại bảng để theo dõi. Khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình thì khoản tiền chi ra này được xếp vào nợ quá hạn và khoản bảo 9 lãnh đó được chuyển vào nội bảng để quản lý. Mục tiêu hoạt động bảo lãnh của NHTM Đối vối ngân hàng: Hoạt động bảo lãnh thực ra là một dịch vụ của ngân hàng và lơi nhuận trực tiếp nó đem lại cho ngân hàng là phí bảo lãnh mà ngân hàng thu được. Bảo lãnh làm đa dạng hóa loại hình kinh doanh dịch vụ của ngân hàng, tăng tỉ trọng kinh doanh dịch vụ của ngân hàng, giảm được rủi ro của ngân hàng do phụ thuộc quá lớn vào hoạt động tín dụng.Hoạt động bảo lãnh mang lại uy tín và sự bền vững lâu dài trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Đối với khách hàng: Nghiệp vụ bảo lãnh giúp cho khách hàng giải quyết mâu thuẫn giữa cấc đối tác kinh doanh. Trong kinh doanh, giữa các đối tác thiếu sự tin tưởng, cần có một sự bảo đảm cho tính an toàn và thúc đẩy kinh doanh nhanh chóng, một bên thường yêu cầu bên kia phải có công cụ bảo đảm - đó là bảo lãnh ngân hàng. Ngoài ra, bảo lãnh ngân hàng giúp cho khách hàng tiết kiệm được khoản vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động, chi phí trả cho bảo lãnh tương đối thấp.Trường hợp người bảo lãnh là nhà cung cấp, người dự thầu lợi ích của bảo lãnh đối với họ là giành được hợp đồng và thực hiện hợp đồng. Hơn nữa, bảo lãnh làm cho khách hàng tăng thêm uy tín trong kinh doanh do uy tín của họ được ngân hàng đứng ra bảo đảm.
Bảo lãnh trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các gioa dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng, mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm…. Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh của NHTM: Với vai trò làm trung gian tài chính trong nền kinh tế của NHTM ta thấy giữa người gửi tiền, người cho vay với người cần tiền, người đi vay có sự tách biệt nhau hoàn toàn, ngân hàng là người ở giữa gánh chịu rủi ro từ cả hai phía. Rủi ro là kết quả tổng hợp của rất nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy ngân hàng phải nghiên cứu kỹ từng loại rủi ro để từ đó có thể đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro một cách hữu hiệu nhất nhằm đảm bảo kinh doanh an toàn và đạt hiệu quả lợi nhuận cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động bảo lãnh của NHTM 1.1 Rủi ro tín dụng trong hoạt động bảo lãnh của NHTM Theo Luật các tổ chức tín dụng47/2010/QH12 (2010): “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Theo Thông tư quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 41/2016/TT-NHNN (2016): “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các trường hợp quy định điểm b – Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do đối tác không có khả năng thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch”. Từ các khái niệm trên, ta có thể đưa ra khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động bảo lãnh của NHTM như sau: Rủi ro tín dụng trong hoạt động bảo lãnh của NHTM phát sinh trong trƣờng hợp khách hàng không thực hiện đƣợc cam kết với Bên thứ ba (Bên nhận bảo lãnh) và NHTM phải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho Bên thứ ba thay cho khách hàng. Khi đó, ngân hàng đã thực hiện cho vay bắt buộc với khách hàng và khoản vay ngay lập tức được ghi nhận là nợ xấu.