Chương 1 đã trình bày lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và các mục tiêu cần đạt được. Để đạt được những mục tiêu đó, cần phải xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp. Việc này đòi hỏi phải dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó. Do đó, những nội dung trong chương 2 sẽ trình bày về tổng quan các khái niệm tỷ suất lợi nhuận và rủi ro; tỷ suất lợi nhuận và rủi ro danh mục đầu tư, đường biên giới hạn phương sai nhỏ nhất, các mô hình tài chính nghiên cứu về tác động của các yếu tố rủi ro đến tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu và kết quả các nghiên cứu trước.
Đó sẽ là cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương sau.1 Các khái niệm Trong đầu tư, mọi quyết định đều dựa trên tỷ suất lợi nhuận (TSLN) và rủi ro, luôn có sự đánh đổi giữa TSLN nhận được và rủi ro. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), TSLN là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và giá trị khoản đầu tư bỏ ra. Nếu gọi R: TSLN thì TSLN đầu tư cổ phiếu được xác định theo công thức như sau: Dt + (Pt – Pt-1 ) R= Pt-1 Trong đó: Dt: cổ tức cổ phiếu tại thời điểm t. Pt: giá cổ phiếu tại thời điểm t.
Pt-1: giá cổ phiếu tại thời điểm t-1. Nếu: cổ tức và giá cổ phiếu theo giá trị thực tế thì chúng ta được TSLN thực tế, cổ tức và giá cổ phiếu theo số liệu kỳ vọng thì chúng ta được TSLN kỳ vọng. Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), rủi ro là sự sai biệt của TSLN thực tế so với TSLN kỳ vọng hay rủi ro là một sự không chắc chắn, một biến cố có khả năng xảy ra và cũng có khả năng không xảy ra. Để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất với hai tham số đo lường phổ biến là TSLN kỳ vọng và độ lệch chuẩn.
6 Về mặt thống kê, TSLN kỳ vọng, ký hiệu: E(R), được xác định theo công thức như sau: n E R = Ri (Pi ) i=1 Trong đó: Ri : TSLN ứng với biến cố i. Pi: xác suất xảy ra biến cố i. n: số biến cố có thể xảy ra. TSLN kỳ vọng là trung bình gia quyền của các TSLN có thể xảy ra với trọng số là xác suất xảy ra.
Về ý nghĩa, TSLN kỳ vọng chưa xảy ra, do đó nó là TSLN không chắc chắn hay TSLN có kèm theo rủi ro. Để đo lường độ phân tán hay sai biệt giữa TSLN thực tế so với TSLN kỳ vọng, người ta dùng độ lệch chuẩn (σ). Về mặt thống kê, độ lệch chuẩn được xác định theo công thức như sau: n 𝜎= Ri – E R 2 (P ) i i=1 Trong đó: Ri : TSLN ứng với biến cố i. E(R): TSLN kỳ vọng.
Pi: xác suất xảy ra biến cố i.2 Lý thuyết danh mục đầu tƣ Markowitz (1952) 2.1 Tỷ suất lợi nhuận và rủi ro danh mục đầu tƣ Theo Markowitz (1952), Nguyễn Minh Kiều (2009), TSLN kỳ vọng danh mục đầu tư là trung bình có trọng số các TSLN kỳ vọng từng tài sản hay chứng khoán cá biệt trong danh mục đầu tư. Trọng số là tỷ trọng từng loại chứng khoán cá biệt trong danh mục đầu tư. Gọi Ep(R): TSLN kỳ vọng danh mục đầu tư, được xác định theo công thức như sau: 7 m Ep R = Wj. Ej (R) j=1 Trong đó: Wj: tỷ trọng chứng khoán j trong danh mục đầu tư.
Ej(R): TSLN kỳ vọng chứng khoán j. m: tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư. Theo Markowitz (1952), Nguyễn Minh Kiều (2009), rủi ro danh mục đầu tư được đo lường bởi độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư. Khi kết hợp nhiều tài sản trong một danh mục đầu tư, TSLN các chứng khoán cá biệt có quan hệ với nhau.
Đồng phương sai là đại lượng thống kê dùng để đo lường mức độ tác động qua lại lẫn nhau giữa TSLN hai tài sản cá biệt. Hay độ lệch chuẩn danh mục đầu tư phụ thuộc vào mức độ tương quan giữa các chứng khoán trong danh mục đầu tư. Độ lệch chuẩn danh mục đầu tư được xác định theo công thức như sau: m m σp = Wj Wk σj,k j=1 k=1 Trong đó: m: tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư. Wj: tỷ trọng chứng khoán j trong danh mục đầu tư.
Wk: tỷ trọng chứng khoán k trong danh mục đầu tư. σj,k: đồng phương sai giữa TSLN chứng khoán j và k. Đồng phương sai giữa TSLN hai chứng khoán được xác định theo công thức như sau: σj,k = rj,k σj σk Trong đó: rj,k: hệ số tương quan kỳ vọng giữa TSLN chứng khoán j và TSLN chứng khoán k. 8 σj: độ lệch chuẩn TSLN chứng khoán j.
σk: độ lệch chuẩn TSLN chứng khoán k.2 Đa dạng hóa danh mục đầu tƣ nhằm giảm rủi ro Theo Markowitz (1952); Nguyễn Minh Kiều (2009) thì đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm cắt giảm rủi ro có nghĩa là kết hợp đầu tư vào nhiều loại chứng khoán mà các chứng khoán này không có tương quan cùng chiều với nhau một cách hoàn hảo, nhờ vậy biến động giảm TSLN chứng khoán này có thể được bù đắp bằng biến động tăng TSLN chứng khoán kia. Ngoài ra, người ta còn đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm cắt giảm rủi ro bằng cách đầu tư vào thị trường chứng khoán (TTCK) quốc tế thay vì chỉ tập trung đầu tư vào TTCK của một quốc gia nào đó. Nguồn: Nguyễn Minh Kiều (2009) Hình 2.1: Kết hợp hai chứng khoán A và B để cắt giảm rủi ro. Để thấy rủi ro được giảm như thế nào, rủi ro danh mục đầu tư được chia ra làm hai loại như sau: Rủi ro thị trường: rủi ro biến động TSLN chứng khoán hay danh mục đầu tư do sự thay đổi TSLN trên thị trường nói chung, được gây ra bởi các yếu tố như tình hình kinh tế, lạm phát, lãi suất, cải tổ chính sách thuế của Chính phủ, thay đổi tình hình năng lượng thế giới.
Đây chính là phần rủi ro chung cho tất cả các loại chứng khoán và do đó không thể giảm được bằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Loại rủi ro này được đo lường bằng hệ số β trong mô hình CAPM truyền thống. 9 Rủi ro đặc thù: rủi ro xảy ra đối với một công ty hay một ngành kinh doanh nào đó như chiến lược phát triển đầu tư, chất lượng ban lãnh đạo, trình độ nghề nghiệp của công nhân, một cuộc đình công, một đối thủ cạnh tranh phát triển sản phẩm mới, một phát minh ra công nghệ tiên tiến của công ty nào đó có tác động đến TSLN của một công ty hay một ngành. Rủi ro này độc lập với các yếu tố như tình hình kinh tế, chính trị hay những yếu tố mang tính chất hệ thống và có tác động đến toàn bộ các chứng khoán có trên TTCK.
Theo Markowitz (1952), rủi ro đặc thù có thể giảm bớt khi nhà đầu tư nắm giữ danh mục đầu tư tối ưu. Nguồn: Nguyễn Minh Kiều (2009) Hình 2.2: Rủi ro đặc thù.3: Rủi ro thị trƣờng và rủi ro đặc thù.3 Đƣờng biên giới hạn phƣơng sai nhỏ nhất của tài sản rủi ro Nguồn: Markowitz (1952) Hình 2.4: Đƣờng biên giới hạn phƣơng sai nhỏ nhất của tài sản rủi ro. 10 Theo Markowitz (1952), đường biên giới hạn là đồ thị thể hiện phương sai nhỏ nhất có thể đạt được ứng với một TSLN cho trước của danh mục đầu tư. Với TSLN, phương sai và hiệp phương sai được cho trước, chúng ta có thể xác định được danh mục đầu tư có phương sai nhỏ nhất tương ứng với bất kỳ TSLN kỳ vọng mục tiêu nào.
Tất cả danh mục đầu tư nằm trên đường đường biên giới hạn từ danh mục rủi ro có phương sai nhỏ nhất trở lên trên đều tạo ra sự kết hợp giữa TSLN và rủi ro tốt nhất. Phần bên trên danh mục có phương sai nhỏ nhất được gọi là đường biên giới hạn hiệu quả của tài sản rủi ro (Efficient Frontier of Risky Assets). Ngược lại, phần phía bên dưới danh mục có phương sai nhỏ nhất thì kém hiệu quả. Một nhà đầu tư hợp lý sẽ lựa chọn danh mục đầu tư nằm trên đường này tùy thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro của họ.
Luận văn nghiên cứu này thực hiện trong phạm vi phần đường biên giới hạn hiệu quả của tài sản rủi ro (Efficient Frontier of Risky Assets). Khi đầu tư vào danh mục đầu tư có rủi ro cao, nhà đầu tư luôn tự hỏi sẽ kiếm được bao nhiêu TSLN tăng thêm để bù đắp cho rủi ro mà họ phải gánh chịu và phần TSLN tăng thêm đó được gọi là phần bù rủi ro.3 Các mô hình tài chính nghiên cứu về tác động của các yếu tố rủi ro đến tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu 2.1 Mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model - CAPM) Vào giữa thập niên 60, ba nhà kinh tế là Sharpe (1964); Lintner (1965) và Mossin (1966) đã công bố độc lập nghiên cứu của mình về mô hình CAPM, mô hình mô tả mối tương quan giữa rủi ro và TSLN kỳ vọng với cơ sở lý luận chặt chẽ và sự đơn giản của CAPM đã khiến nó trở thành một trong những mô hình có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong giới tài chính. Ri,t = Rf,t + Rm,t – Rf,t βMRP Trong đó: Ri,t : TSLN danh mục tài sản i tại thời điểm t. Rm,t : TSLN danh mục thị trường tại thời điểm t.
11 Rf,t : lãi suất phi rủi ro tại thời điểm t. βMRP : hệ số beta của danh mục tài sản i. Trong mô hình này, TSLN kỳ vọng một chứng khoán bằng TSLN không rủi ro (risk-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro thị trường của chứng khoán đó. Còn về rủi ro đặc thù không được xem xét trong mô hình này do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hoá để loại bỏ loại rủi ro này.
Và đây cũng là một mô hình tài chính đang được áp dụng khá phổ biến tại TTCK Việt Nam. Về hình học, tương quan giữa TSLN kỳ vọng chứng khoán và hệ số β được biểu diễn bằng đường TTCK SML - Security Market Line. Nguồn: Nguyễn Minh Kiều (2009) Hình 2.5: Đồ thị biểu diễn đƣờng TTCK SML - Security Market Line. Khi hệ số β càng cao thì TSLN chứng khoán càng cao và vì vậy, cũng mang nhiều rủi ro hơn: β = 0: TSLN kỳ vọng chứng khoán chính là TSLN không rủi ro (Rf).
β = 1: TSLN kỳ vọng chứng khoán chính là TSLN danh mục thị trường (Rm).