phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về rủi ro trong thanh toán quốc tế của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế tại BIDV Chƣơng 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế tại BIDV 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ 1. Khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm về thanh toán quốc tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu nhƣ hiện nay các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, thƣơng mại… ngày càng phát triển mạnh mẽ và kết quả là hình thành nên các khoản thu và chi tiền tệ giữa các đối tác ở những quốc gia khác nhau.
Trong quan hệ quốc tế đó, vì khoảng cách địa lí, vì sự bất đồng trong ngôn ngữ….nên việc thanh toán không thể tiến hành trực tiếp đƣợc mà phải thông qua các tổ chức trung gian, đó là các NHTM. Đây là khởi nguồn cho khái niệm “thanh toán quốc tế”. Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nƣớc này với tổ chức hay cá nhân nƣớc khác, hoặc giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thƣờng đƣợc thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nƣớc có liên quan [23, tr. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến: “Thanh toán quốc tế (International Settlements) là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hƣởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức hay cá nhân nƣớc này với tổ chức hay cá nhân nƣớc khác, giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua cầu nối trung gian là các ngân hàng của các nƣớc có liên quan” [21, tr.
Với quan điểm của tác giả luận văn, tùy vào từng góc độ sẽ có những khái niệm thanh toán quốc tế khác nhau. Một yếu tố không thể không nhắc tới khi bàn về TTQT đó là “ngoại tệ” và “các ngân hàng thƣơng mại” vì tiền tệ 8 thanh toán phần lớn là ngoại tệ tự do chuyển đổi, còn các ngân hàng thì nhƣ nhịp cầu làm lƣu thông quá trình mua bán. Tới đây, có thể hiểu “hoạt động thanh toán quốc tế là những hoạt động thanh toán có yếu tố quốc tế liên quan đến các quốc gia khác nhau, các doanh nghiệp và các ngân hàng ở các nước khác nhau xung quanh việc mở tài khoản, cung cấp dịch vụ thanh toán, tổ chức và tham gia vào hệ thống thanh toán liên quan đến các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ trong thương mại quốc tế”. Đặc điểm của thanh toán quốc tế - Thứ nhất, thanh toán quốc tế thực hiện dựa trên cơ sở nền tảng pháp luật, đồng thời bị chi phối bởi các tập quán quốc tế.
Hệ thống pháp luật là yếu tố tiền đề cấu thành môi trƣờng pháp lí của hoạt động TTQT. Khi tham gia thƣơng mại quốc tế tức là ít nhất có sự liên quan của hai bên: bên nƣớc ngƣời xuất khẩu, bên nƣớc ngƣời nhập khẩu; do đó các chủ thể khi tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế không những chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia, mà còn phải tuân thủ các văn bản pháp lý quốc tế, các tập quán quốc tế do Phòng thƣơng mại quốc tế ban hành nhƣ: UCP, URC, INCOTERMS…Những văn bản này tạo ra một khung pháp lý bình đẳng cho các chủ thể tham gia vào hoạt động thƣơng mại và thanh toán quốc tế, tránh những hiểu lầm và tranh chấp đáng tiếc xảy ra [21, tr. - Thứ hai, hoạt động thanh toán quốc tế trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch đầu tư, thương mại, hợp tác quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng. Trong thực tiễn, ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu không thể và không đƣợc phép tiến hành thanh toán quốc trực tiếp cho nhau.
Theo quy định của pháp luật, việc thanh toán bắt buộc phải thông qua hệ thống ngân hàng. Việc thanh toán qua hệ thống ngân hàng đảm bảo cho các khoản chi trả đƣợc thực hiện một cách an toàn, nhanh chóng và hiệu quả [21, tr.16] 9 - Thứ ba, tiền tệ trong thanh toán quốc tế thường không phải là tiền mặt mà tồn tại dưới các phương tiện thanh toán như: kì phiếu, điện chuyển tiền, hối phiếu và séc. Thanh toán không dùng tiền mặt đƣợc giới tài chính và nhiều chuyên gia đánh giá là cách sử dụng tiền thông minh vì vừa tránh đƣợc những rủi ro trong quá trình vận chuyển tiền mặt lại vừa giúp dòng chảy tiền tệ đƣợc lƣu thông rõ ràng và trơn tru hơn. - Thứ tư, đồng tiền trong TTQT thường là ngoại tệ với ít nhất với một trong hai bên tham gia.
Có thể là đồng tiền của một trong hai nƣớc tham gia thƣơng mại quốc tế nhƣng cũng có thể là đồng tiền từ nƣớc thứ ba. Việc lựa chọn đồng tiền nào thanh toán đóng vai trò rất quan trọng vì nó liên quan đến: chính sách tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối của mỗi nƣớc, về sự ổn định của loại ngoại tệ đó cũng nhƣ liên quan đến lợi ích của các bên tham gia. - Thứ năm, ngôn ngữ được sử dụng trong TTQT chủ yếu là tiếng Anh. Các hợp đồng đƣợc soạn thảo, các thƣ tín dụng đƣợc phát hành, các email trao đổi hay các điện MT799…đa phần đƣợc viết bằng tiếng Anh.
Việc sử dụng đồng nhất ngôn ngữ giúp cho các bên liên quan dễ dàng hiểu đƣợc ý của nhau, thống nhất trong cách hiểu và thuận tiện cho việc trao đổi và giải quyết các mâu thuẫn (nếu có). - Thứ sáu, giải quyết tranh chấp trong thương mại quốc tế chủ yếu bằng luật quốc tế; hoặc luật quốc gia của nước thứ ba; hoặc luật của nước người xuất hay nhập do các bên thỏa thuận thông qua trọng tài hay tòa án [21, tr.16] Tranh chấp trong thƣơng mại quốc tế trong đó bao gồm thanh toán quốc tế là lĩnh vực rất rộng, phức tạp chủ yếu tập trung vào 2 nhóm là: Tranh chấp hợp đồng và Tranh chấp ngoài hợp đồng. Khi xảy ra tranh chấp các bên 10 rất khó thƣơng lƣợng giải quyết, đa phần là do cách hiểu không đồng nhất về tập quán và điều kiện thƣơng mại quốc tế, sự khác nhau về văn hóa ở mỗi quốc gia và sự khác biệt trong ngôn ngữ….Việc lựa chọn con đƣờng giải quyết tranh chấp luôn là bài toán khó với các doanh nghiệp. Các điều kiện thanh toán quốc tế Để thực hiện TTQT, điều khoản thanh toán quy định trong hợp đồng ngoại thƣơng các bên tham gia phải quan tâm đến các điều kiện về tiền tệ, thời hạn thanh toán, phƣơng thức thanh toán, địa điểm thanh toán và phƣơng tiện thanh toán.
Điều kiện về tiền tệ [20], [21] Điều kiện này quy định việc lựa chọn đồng tiền của nƣớc nào để thanh toán và tính toán đồng thời qui định cách xử lí khi có biến động giá trị của đồng tiền đó trong giao dịch thƣơng mại quốc tế. Điều này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của ngƣời mua, ngƣời bán. Nhìn chung đồng tiền đƣợc lựa chọn là đồng tiền tự do chuyển đổi (free convertible currency), có uy tín và độ ổn định cao. Vì nó có thể dễ dàng chuyển đổi sang đồng tiền khác mà ít gặp hạn chế hay cản trở nào và có tính sử dụng rộng rãi trên toàn cầu.
Các đồng tiền đƣợc sử dụng phổ biến trong TTQT có thể kể đến là: USD, EUR, GBP, JPY… Việc lựa chọn đồng tiền còn phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Tƣơng quan lực lƣợng giữa bên mua-bên bán và vị thế của loại hàng hóa đó trên thị trƣờng. - Vị trí của đồng tiền trên thế giới - Tập quán sử dụng đồng tiền trong thanh toán quốc tế Trong quan hệ thanh toán quốc tế, cả ngƣời mua và ngƣời bán đều mong muốn sử dụng đồng tiền của nƣớc mình để thanh toán và tính toán nhằm: hạn chế rủi ro tỉ giá, nâng cao vị thế đồng tiền của nƣớc mình trên trƣờng quốc tế và không phải chuẩn bị nguồn ngoại tệ để giao dịch. Chính vì 11 vậy việc lựa chọn ra đồng tiền nào để thanh toán, tính toán cũng đƣợc cân nhắc hết sức kĩ lƣỡng. Điều kiện về thời gian thanh toán [21, tr.32] Thời gian thanh toán là thời hạn mà nhà nhập khẩu phải trả tiền cho nhà xuất khẩu.
Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ tới việc luân chuyển vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh đƣợc những biến động về tiền tệ thanh toán do đó nó là vấn đề quan trọng và thƣờng xuyên xảy ra tranh chấp giữa các bên trong đàm phán ký kết hợp đồng. Thƣờng có ba cách quy định bao gồm thời gian trả tiền trƣớc, thời gian trả tiền ngay và thời gian trả tiền sau. - Trả tiền trước: Là việc ngƣời mua trả một phần hoặc toàn bộ tiền cho ngƣời bán trƣớc khi giao nhận hàng hóa. Trong thực tiễn thƣơng mại quốc tế, đây là hình thức tài trợ tín dụng của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu gọi là tín dụng nhập khẩu.
- Trả tiền ngay: Là việc ngƣời mua phải trả tiền diễn ra đồng thời với việc ngƣời bán giao hàng, cung ứng dịch vụ. -Trả tiền sau: Là việc ngƣời mua trả tiền cho ngƣời bán sau khi ngƣời bán giao hàng một thời kì nhất định (1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm….) đây là hình thức tài trợ tín dụng của nhà xuất khẩu với nhà nhập khẩu. Điều kiện về địa điểm thanh toán Là nơi việc trả tiền đƣợc thực hiện. Cũng giống nhƣ điều kiện về tiền tệ, bên xuất khẩu hay bên nhập khẩu đều mong muốn lấy quốc gia mình làm nơi thanh toán.
Vì nó mang lại nhiều điểm có lợi: nhƣ đối với ngƣời nhập khẩu đến ngày mới phải chi tiền, đỡ ứ đọng vốn hoặc đối với ngƣời xuất khẩu thì quá trình thu hồi tiền đƣợc nhanh hơn làm vòng luân chuyển vốn cũng nhanh hơn. Đặc biệt là tạo điều kiện cho NH nƣớc mình thu phí dịch vụ và nâng cao đƣợc vị thế quốc gia mình trên trƣờng quốc tế. Thông thƣờng, địa 12 điểm thanh toán phụ thuộc vào phƣơng thức thanh toán, tƣơng quan lực lƣợng của các bên và thƣờng dùng đồng tiền của quốc gia nào. Điều kiện về phương tiện và phương thức thanh toán [20, tr.